Dòng tin

Mới nhất

Những bài viết mới được cập nhật trên Bắc Ninh Today.

3,601 bài viết

MỚI NHẤT

Bánh đa Kế

Bánh đa Kế

Làng Kế là ngôi làng cổ thuộc xã Dĩnh Kế của thành phố Bắc Giang ngày nay. Xã có mười một thôn, trong đó có sáu thôn làm bánh đa. Người dân trong vùng thường gọi là bánh Kế, bởi bánh đa của làng Kế làm ra có hương vị đặc trưng không giống với bánh đa ở bất cứ nơi đâu.

NỘI DUỆ - LÀNG NGHỀ CHÀI LƯỚI BÊN SÔNG

NỘI DUỆ - LÀNG NGHỀ CHÀI LƯỚI BÊN SÔNG

Nằm ở vị trí nhất cận thị, nhị cận giang thôn Nội Duệ xã Tự Lạn huyện Việt Yên là một vùng quê có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Nghe tên làng ta hình dung Nội Duệ phải là một làng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Nhưng không phải vậy, cách trung tâm xã Tự Lạn chừng 2km đi men qua con đường đê vắt qua làng ta đến thôn Nội Duệ.

Bún Đa Mai

Bún Đa Mai

Xã Đa Mai xưa kia thuổc tổng Đa Mai, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc. Ngày nay xã Đa Mai thuộc thành phố Bắc Giang. Nguồn sống chính của người dân Đa Mai là chế biến lương thực, mà nổi tiếng là sản phẩm bún đã được người dân khắp nơi ca ngợi : bún Đa Mai, vai làng Đò, giò làng Thương, tương làng Bún…Muốn có bún ngon cũng đòi hỏi lắm công phu. Người làm bún cẩn thận từ khâu chọn gạo, nếu không đúng loại gạo bún sẽ nát, chua, mau hỏng. Xưa kia có hai loại gạo được dùng để chế biến bún là gạo bông hồng và gạo sớm hay còn gọi là gạo sụng hoặc gạo ré, ngày nay dùng các loại gạo 203, bao thai hồng, mộc tuyền, T16. Sau khi đã chọn được gạo, người làm bún phải đãi gạo cho sạch hết những tạp chất, sỏi, sạn. Nếu chẳng may còn sót lại những viên sạn son thì cả mẻ bún đó sẽ trở thành màu phớt hồng, không đảm bảo chất lượng và thẩm mỹ. Gạo được đãi sạch sẽ, kỹ càng thì cho vào chậu sành ngâm với nước sạch chừng 12 tiếng đồng hồ, sau đó vớt gạo ra và đãi lại lần cuối, rồi đổ gạo vào rá cho ráo bớt nước, chuyển sang công đoạn xay rồi ngâm bột. Vại sành dùng để ngâm bột phải là vại nung già thành sành, nếu vại non sẽ thôi ra bột, ảnh hưởng đến chất lượng mẻ bún. Ngâm bột còn tuỳ thuộc vào mùa và thời tiết. Nếu thời tiết nóng thì ngâm khoảng 2 ngày, thời tiết lạnh ngâm khoảng 7 ngày. Bột ngâm càng kỹ thì bún càng dẻo, ngon và bảo quản được lâu. Trong khi ngâm, mỗi ngày phải thay nước một lần.Bột đã ngâm đủ thời gian quy định được múc vào miếng vải (thường là vải diềm bâu trắng) gói lại gọi là quả bột, rồi dùng vật nặng (cối đá) để nén bột cho chảy kiệt hết nước, sau đó lấy ra cắt làm đôi, thúc lại cho đều, tạo thành quả bột tròn, mỗi quả có trọng lượng 5-6 kg. Đun nước sôi, cho quả bột vào giỏ, thả vào nồi nước sôi luộc. Thời gian luộc vào khoảng từ 15 đến 20 phút (cũng phụ thuộc vào thời tiết). Nhưng theo kinh nghiệm bà con cho biết, khi nào xung quanh vỏ quả bột chín vào khoảng một đốt ngón tay là được. Quả bột vớt ra cho vào cối giã. Thường là ba người đứng giã và một người vén bột rất đều đặn nhịp nhàng. Nay khâu này đã được làm bằng máy. Quả bột giã ban đầu tơi như đỗ, sau càng giã càng dẻo quánh dần. Giã bột càng kỹ thì sợi bún càng dai. Giã khoảng 30 phút thì lại quệt bột thành quả lớn đưa vào khay gỗ nháo cùng nước đun sôi để ấm cho đến khi nào bột sền sệt là được.Công đoạn tiếp theo là cho bột vào ống lượt để lọc. Ống lượt là một miếng vải dệt bằng sợi tơ tằm màu trắng (dệt thưa lỗ nhỏ hơn lỗ màn tuyn), sau đó khâu chắc hai mép vào với nhau thành hình ống có chiều dài là 70 cm, đường kính 10 cm. Miếng ống lượt được đính một miếng vải dày, chắc có kích thước là 20 cm x 300 cm, bên trên cũng có quai cầm gọi là tai lượt, dùng để cầm khi lọc bột.Bột lọc chảy vào chậu sành hoặc thau nhôm, chậu nhựa, còn những hạt bột to đọng lại trong ống lượt được dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.Sau khi bột đã lọc kỹ, người làm bún chuyển sang công đoạn vặn bột thành bún. Trên bếp đặt một nồi nước sôi lăn tăn (khoảng 80oC), xưa là nồi đồng to, nay là xoong nhôm cỡ 60. Khuôn vặn được tạo từ một miếng vải dày hình vuông, ở giữa miếng vải khoét lỗ đặt khuôn hình tròn bằng đồng được kính 8 cm, bề mặt khuôn đục nhiều lỗ nhỏ. Đặt khuôn trên một bát to, lấy thìa gỗ múc bột vào, sau đó nhấc khuôn vặn bột vào nồi nước sôi lăn tăn (nước trong nồi luôn luôn đầy lưng nồi). Khi vặn xong một lần đậy vung lại khoảng 1 phút, mở vung ra, những sợi bún nổi lên thì vớt bún ra. Mỗi lần vặn được khoảng 1kg bún. Dụng cụ vớt bún là một rổ tre đan thưa, đường kính 25 cm, có gắn một cán bằng gỗ làm tay cầm, dài khoảng 20 cm. Bún được vớt ra chậu hoặc thau nước nóng già, để một lúc, sau đó vớt ra rổ ép hết nước, đổ ra sàng là được sản phẩm bún rối.Muốn tạo bún lá thì phải làm tiếp công đoạn bắt bún : Khi bún được vớt ra chậu hoặc thau có nước nóng già, nhúp những sợi bún lên đặt vào ngón trỏ, ngón giữa bàn tay phải kẹp bún vuốt đều cho sạch nước rồi để vào thúng, rổ, giá có lót lá chuối tươi. Sản phẩm bún Đa Mai còn có bún vẩy ốc và bún con ba. Để làm bún vẩy ốc, khi bún đã được vuốt thắng và sạch nước thì cuốn tròn xoáy trôn ốc. Bún con ba cũng có kỹ thuật làm như bún vẩy ốc, nhưng để thẳng ba con một lượt, xếp ngang dọc chồng lên nhau. Mỗi con bún chỉ dài 7-8 cm.Bún là món ăn dân dã thích hợp với khẩu vị của nhiều người. Từ sản phẩm bún có thể chế biến nhiều món ăn : Bún chả, bún ốc, bún nem, bun riêu cua, bún ngan, bún vịt, bún măng, bún sườn, bún cá, bún thịt chó, bún đậu mắm tôm.Báo Bắc Giang

Rượu Vân Hà thơm ngọt mền môi

Rượu Vân Hà thơm ngọt mền môi

Du khách đến với Bắc Giang, say cảnh đẹp Bắc Giang, cảm cái tình người Bắc Giang và những tinh hoa ẩm thực vùng Kinh Bắc và để đến khi chia tay vẫn còn lưu luyến, vẫn còn quấn quýt không muốn rời. Cái cảm mến ấy đã được Hoàng Tuấn Anh- GĐ Trung tâm TTXTDL Hải Phòng cảm nhận. Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

Làng nghề Mây tre Đan Tăng Tiến

Làng nghề Mây tre Đan Tăng Tiến

Làng nghề mây tre đan Tăng Tiến, xã Tăng Tiến, Việt Yên (Bắc Giang) là nơi có nghề đan lát truyền thống nổi tiếng từ rất lâu đời. Làng có lịch sử hình thành nghề đến nay đã hơn 300 năm, khoảng vào thời nhà Hậu Lê và ngày một phát triển lớn mạnh.

Gốm Làng Ngòi – Tư Mại – Yên Dũng – Bắc Giang

Gốm Làng Ngòi – Tư Mại – Yên Dũng – Bắc Giang

Nghề gốm sứ được đánh dấu mốc ở Bắc Giang từ vài thế kỷ trước, từ những sản phẩm của làng Gốm vùng Châu thổ Sông Hồng, nằm ven sông Cầu- Làng Thổ Hà nổi danh 1 thời; cho đến những sản phẩm dòng gốm riêng- gốm làng Ngòi, Sứ Quảng Minh, Gốm Sứ Bắc Giang…Tất cả đều mang đậm phong cách dân gian và nét văn hoá làng quê đặc sắc được kết tinh trong mỗi sản phẩm. Sau một thời gian bị lãng quyên, gốm làng Ngòi từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường, có mặt tại nhiều công trình trên khắp mọi miền đất nước, đồng thời xuất khẩu sang Nhật, Ấn Độ, Ai Cập, châu Âu…

Thăm làng gốm cổ Thổ Hà

Thăm làng gốm cổ Thổ Hà

Nằm bên bờ sông Cầu, làng Thổ Hà nổi danh với nghề làm gốm từ thế kỷ 14. Nơi đây từng là một thương cảng tấp nập thuyền bè ngược xuôi ra vào bến sông Như Nguyệt, mang đi những đồ gốm thổi hồn từ đất và bàn tay nghệ nhân làng.

Bắc Giang: Lễ hội Đình Vồng

Bắc Giang: Lễ hội Đình Vồng

Đình Vồng thuộc xã Song Vân, huyện Tân Yên, Bắc Giang.Lễ hội đình Vồng gồm lực lượng chính của 4 xã: Song Vân, Ngọc Vân, Lam Cốt, Việt Ngọc của tổng Vân Cầu cũ. Ngoài ra còn một số xã khác xung quanh ở phía Tây của huyện tham gia.Lễ hội đình Vồng là một lễ hội có từ lâu đời. Hàng năm hội đình Vồng được tổ chức vào ngày 15, 16,17 tháng giêng và ngày 9,10,11 tháng 9 âm lịch

Lễ hội Đền Từ Hả

Lễ hội Đền Từ Hả

Lễ hội Đền Từ Hả thuộc xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn nơi thờ thượng tướng quân Thân Cảnh Phúc. Khu di tích Đền Từ Hả thuộc xã Hồng Giang, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Nơi thờ thượng tướng quân Thân Cảnh Phúc ( tức Vũ Thành) thời Lý. Người có công trong cuộc chống quân Tống xâm lược thế kỷ thứ XI (1075-1077)

Ấn Tượng hội hát Quan họ

Ấn Tượng hội hát Quan họ

“Đến hẹn lại lên” du khách hành hương lễ phật về miền Kinh Bắc vào những ngày đầu xuân lại có dịp được hòa mình trong không khí lễ hội dân gian, để thả hồn mình trong dập dìu những làn điệu quan họ trữ tình, đắm say … Hội hát quan họ hằng năm được tổ chức tại chùa Bổ Đà nhân dịp đầu xuân đã và đang trở thành nơi gặp gỡ giao lưu của các liền anh liền chị và những người yêu mến làn điệu dân ca trữ tình này, đồng thời làm sống lại không gian sinh hoạt văn hóa của một di sản thế giới.

Lễ hội Chùa La (Chùa Vĩnh Nghiêm)

Lễ hội Chùa La (Chùa Vĩnh Nghiêm)

Hội chùa La cũng là hội chùa Đức La và chùa Vĩnh Nghiêm ở thôn Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng. Cả 3 cái tên này thì chỉ có Vĩnh Nghiêm là tên chữ của chùa, còn lại 2 tên kia là tên thôn sở tại của chùa. Có điều trong 3 tên đó thì nên dùng Vĩnh Nghiêm để gọi vì chùa này nổi tiếng cả nước với cái tên ấy. Còn dùng để gọi hội thì dùng tên hội chùa La hay hội chùa Đức La cũng vậy bởi La là tên nôm đơn ,Đức La là tên Hán Việt.

Cuộn xuống để xem thêm bài viết