Danh Thắng
Các bài viết mới nhất về Danh Thắng.
MỚI NHẤT
Du lịch khuôn thần với công tác bảo tồn di sản văn hóa
Từ những năm 1995 huyện đã tổ chức Lễ khai trương khu du lịch Khuôn Thần và mở các hội hát Sloong hao, Sli, Lượn nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, nên tiềm năng vẫn còn bỏ ngỏ. Ước muốn của Đảng Bộ và nhân dân các dân tộc trong khu vực lòng hồ Khuôn Thần và nhân dân trong huyện có được một điểm du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản văn hoá là một nhu cầu chính đáng rất cần được sự quan tâm. Vấn đề ở chỗ, ai đầu tư nhưng phải đảm bảo những hạng mục công trình cơ bản, thiết yếu của một vùng du lịch không chỉ như nhiều nơi khác mà Khuôn Thần cần phải đặt ra những hạng mục công trình mang đậm bản sắc văn hoá, bảo tồn di sản Văn hoá dân tộc, trong đó sẽ chú trọng một số nội dung bảo tồn văn hóa vật thể và đặc biệt là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể như xây dựng nhà truyền thống, trưng bày, bảo tồn các vật thể văn hoá của các dân tộc vùng Đông Bắc, trong đó mang đậm bản sắc 8 dân tộc Lục Ngạn. Bảo tồn các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc của các dân tộc, phục hồi các lễ hội văn hoá truyền thống: Hội Xuống đồng, hội cầu mùa, hội hàng phe, lễ cưới, hỏi; Sưu tầm,ghi âm, phỏng dịch, in thành sách, đĩa CD- VCD để lưu giữ, và phát hành các ấn phẩm văn hoá (vật thể hoá văn hoá phi vật thể) cho bảo tàng và phục vụ khách du lịch. Tổ chức các CLB hát dân ca, dân tộc: truyền dạy cho lớp trẻ, may mặc trang phục truyền thống để bảo tồn và phục vụ khách du lịch nghiên cứu, thưởng thức các lối hát truyền thống.Khôi phục các làng nghề truyền thống: Dệt vải, đan sung, may trang phục dân tộc. Xây dựng “Làng Văn hoá dân tộc” và “Cộng đồng các dân tộc” “du lịch cộng đồng” để là mẫu hình tăng cường phong trào “ TDĐKXDĐSVH ” và là nơi thăm quan du lịch, “Xã hội hoá” công tác du lịch.Các lò sản xuất men rượu, nấu rượu, các món ẩm thực dân tộc: lợn quay, khau nhục, nhộng ong, chả, xôi trứng kiến…các loại bánh: bánh tày, bánh gio, bánh vắt vai… Khôi phục đền thờ tướng quân Hồ Công Trạc ( người có công phò Vua Trần, gĩư nước, được phong Thần và được vua Trần cho phép xây dựng đền thờ Ông nên có tên là Quân Thần) tại làng Khuôn Thần và lễ hội truyền thống, hội hát dân ca dân tộc Nùng tại đây… Xây dựng tour thăm quan du lịch: Di tích lịch sử văn hoá đền thờ Hồ Công Trạc, đình Cống( nơi chi bộ Đảng xã Kiên Lao đại hội lần thứ nhất) địa danh Lán Cháy (đã xây dựng cột mốc lịch sử năm 2006 nơi đại hội đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ nhất tháng 5- 1951). Khu căn cứ chống Pháp, nơi đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về thăm tại xã Kiên Lao…phối kết với Đền Hả (xã Hồng Giang), chùa Am Vãi (xã Nam Dương), đền chùa Khánh Vân (Thị Trấn Chũ), khu di tích Cầu Từ và các điểm khai quật tại Cầu Từ( xã Phượng Sơn) đã phát lộ dấu tích thời Lý tương tự như Hoàng thành Thăng Long. Đó là những điểm nhấn về văn hoá không thể thiếu nếu như không muốn nói là hồn cốt của khu du lịch sinh thái Khuôn Thần được gắn với văn hoá tâm linh, văn hoá vật thể và phi vật thể; vừa bảo tồn, phát huy, phát triển đúng quan điểm, đường lối của Đảng và phát triển vững bền. Bá Đạt
Du lịch Lục Ngạn- Nhiều tiềm năng phát triển
Từ Đông sang Tây, dọc trục quốc lộ 31, đi từ Biển Động là cụm di tích đình, đền, chùa nằm ngay trung tâm phố Biển nhộn nhịp chợ phiên. Xuôi về Tân Quang 7km là đình Sàng Bến (nơi đây đã diễn ra Đại hội Đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ hai năm 1953). Xuống 3km nữa là chùa Long Mã của xã Giáp Sơn. Xuôi tiếp 3km về Hồng Giang là cụm di tích đền, chùa Hả (di tích cấp quốc gia). Về trung tâm thị trấn Chũ, nằm bên dòng sông Lục là đền, chùa Khánh Vân tiếp xuống xã Phượng Sơn là hệ thống cụm di tích:đình, đền, chùa Kim, Hạ Mã, Cầu Từ, Chể, Từ Xuyên, Ải…Đặc biệt là cây thị đền Cầu Từ đã hàng ngàn năm tuổi, xung quanh còn phát lộ dấu tích tương tự như Hoàng thành Thăng Long, đang tiếp tục được khám phá, mảnh đất với bao huyền thoại. Ngược lên phía Bắc: ta có thể đến thăm nhừng vùng đất một thời anh hùng như xã Tân Mộc- nơi đón Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm vùng đỗ tương ( tháng Giêng năm 1982 – Nhâm Tuất); thăm quê hương của người anh hùng lao động Lý Lỏi Sáng; với những tay súng dân quân hạ “thần sấm” Mỹ, rồi vùng đất Nam Điện chống càn trong kháng chiến chống Pháp của xã Nam Dương. Từ đây du khách đi tiếp khoảng 4 km nữa lên đỉnh Am Vãi thăm chốn “Bồng lai, Tiên cảnh” với thiên nhiên kỳ thú của danh sơn, thắng tích Am Vãi. Xuống núi thăm làng nghề truyền thống chuyên sản xuất mỳ gạo nổi tiếng Thủ Dương. Qua cầu Chũ vào thăm khu sinh thái hồ Khuôn Thần, đến xã Kiên Lao; thăm cột mốc lịch sử “Nơi đại hội Đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ nhất tháng 5/1951) tại Lán Cháy. Ngược dòng kênh Khuôn Thần lên Thanh Hải thăm chùa Quân, thẳng đường lên Biên Sơn qua Trường bắn Quốc gia Khu vực I đi chợ vùng cao, nghe câu sloong hao chợ Cầu Trắng xã Phong Vân, chợ Thác Lười xã Tân Sơn; Lên Cấm Sơn theo lời bài thơ của nhà thơ Thôi Hữu thăm núi Ba Hòn, địa danh của du kích Cấm Sơn đã đuợc Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVTND”. Thăm vùng lòng hồ của 4 xã; Sơn Hải, Hộ Đáp, Tân Sơn và Cấm Sơn xem nuôi cá lồng, thưởng thức hương vị cá, tôm của hồ Cấm Sơn dễ mấy ai quên. Còn thời gian ta đi tiếp thăm vùng rừng nguyên sinh Suối Đấy thuộc Xã Phong Minh. Ngược lên Sa Lý thăm “Cổng trời” của Lục Ngạn, nơi tiếp giáp với Lạng Sơn, thăm ải Sa lý (Chiến ải chống quân xâm lược Nguyên-Mông) rồi xuôi về Nội Bàng, Bàn Than, Bến Ghềnh (đền Quan) nơi Yết Kiêu dong thuyền về Phả Lại… Chừng ấy địa danh, là bao kỳ tích gắn với Lục Ngạn xứng đáng cho những địa chỉ du lịch, hình thành các tour du lịch. Vấn đề là ở chỗ: Phát huy, phát triển và khai thác thế nào? dích đã có, hướng đi, thời cơ, vận hội đã tới; tuy nhiên phía trước cũng lắm gian nan, thách thức và thử thách lòng người Lục Ngạn. Với tiềm năng phong phú về các loại hình du lịch, vị thế cho Lục Ngạn cũng cần phải lựa chọn bước đi, cần phải có chiến lược phát triển du lịch. Trong đó cần coi trọng yếu tố văn hóa, bởi văn hóa luôn là nền tảng của du lịch, cho du lịch cơ hội khai thác, phát huy. Và hơn hết không thể vì mục đích kinh tế mà quên đi việc gìn giữ bản sắc, gìn giữ không gian, môi trường, di sản văn hóa. Công tác đầu tư phát triển du lịch văn hóa cần tránh làm sai, hỏng hoặc “mới hoá” vốn bản sắc văn hóa truyền thống. Để làm được điều này, trước tiên, Lục Ngạn cần phải lập bản đồ quy hoạch và khoanh vùng tổng thể, trước mắt tập trung cho ba điểm: du lịch hồ Khuôn Thần, hồ Cấm Sơn, Đền Hả và chùa Am Vãi. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, Đảng viên và nhân dân đối với chủ trương phát triển Du lịch, tạo ra sự đồng thuận cao trong việc bảo vệ các di tích, cảnh quan, môi trường và từ đó người dân tự giác tham gia làm du lịch. Đồng thời thực hiện công tác thu hút đầu tư phát triển du lịch theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư hạ dịch vụ như: nhà nghỉ, khu vui chơi, nghỉ dưỡng, khu nhà hàng, khách sạn. Có như vậy tiềm năng du lịch của Lục Ngạn mới được phát huy, khai thác tạo nguồn thu cho ngân sách và góp phần nâng cao đời sống cho người dân địa phương./.
Những điểm đến đẹp ở Bắc Giang
Xương Giang- ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ 15 - là điểm đến đầu tiên của những người đam mê lịch sử hay thích tìm tòi, khám phá kiến trúc.
Quy hoạch rừng cảnh quan Suối Mỡ- Động lực cho phát triển du lịch
Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ là nơi hội tụ hai yếu tố: Tâm linh và sinh thái. Về tâm linh với hệ thống đền, chùa bao gồm: Đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Trần, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc... và một số dấu tích còn lưu lại khác. Năm 1988, khu du tích lịch sử đền Suối Mỡ đã được Bộ văn hóa Thông tin nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là khu di tích lịch sử cấp quốc gia. Về sinh thái Suối Mỡ là danh lam thắng cảnh nằm trải dài men theo sườn núi với hệ thống núi rừng trùng điệp, nhiều thác nước lớn nhỏ ngày đêm tuôn chảy tung bọt trắng xóa, nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú cùng với thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú đã thu hút không ít du khách xa gần.Từ lợi thế đó, Suối Mỡ đã được xác định là điểm nhấn quan trọng trong phát triển du lịch Bắc Giang và đã đầu tư dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Suối Mỡ năm 2002 với tổng kinh phí 14,6 tỷ đồng. Các hạng mục đầu tư gồm đường giao thông, đường ven suối, hệ thống lưới điện và thủy lợi. Năm 2009 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đầu tư xây dựng công trình Hồ Suối Mỡ với tổng kinh phí 120 tỷ đồng tạo một diện mạo mới cho Suối Mỡ. Nhằm mở ra cơ hội cho công tác bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ngày 30/11/2011 UBND tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định số 1724/QĐ-UBND về việc thành lập khu rừng Bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ có tổng diện tích là 1.207,1 ha. Tổng vốn đầu tư của dự án là hơn 199 tỷ đồng. Trong đó ưu tiên cho việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa khu vực đền Hạ, đền Trung và đền Thượng; đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; xây dựng các trạm bảo vệ, chòi quan sát, đường tuần tra, trạm dừng chân, vườn ươm, nhà trung tâm du khách; đầu tư phát triển đường giao thông, bến bãi, khu lễ hội, khách sạn, nhà nghỉ, các khu vui chơi giải trí; gây nuôi động vật hoang dã; tổ chức đào tạo cán bộ, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học. Với quy chế của rừng bảo vệ cảnh quan được trích tỷ lệ từ 15-20% quỹ đất cho việc xây dựng các công trình phục vụ cho du lịch. Hiện nay diện tích rừng cảnh quan đã được bàn giao cho Ban quản lý khu du lịch sinh thái Suối Mỡ quản lý và sử dụng. Các hạng mục cơ sở hạ tầng phát triển, đường giao thông nội bộ giai đoạn 2 cơ bản đã hoàn thành, công trình hồ Suối Mỡ đã được đưa vào sử dụng và phát huy tốt hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nghiên cứu, lập quy hoạch đầu tư phát triển sản phẩm du lịch hấp dẫn trong tour du lịch văn hóa tâm linh Tây Yên Tử.Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ là điểm du lịch có vị trí địa lý gần trung tâm thành phố, hệ thống giao thông tới điểm du lịch thuận tiện, hệ thống điện sinh hoạt, điện thoại, nước sinh hoạt đều đã được đáp ứng. Hàng năm huyện Lục Nam đã dành ngân sách tôn tạo các di tích văn hoá lịch sử, bảo tồn các giá trị văn hoá đặc sắc của địa phương; quy hoạch, quản lý danh lam thắng cảnh vốn có; đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng để cung cấp nhiều lâm thổ sản quý, tạo môi trường sinh thái và môi trường xã hội phục vụ phát triển du lịch, đồng thời có chủ trương khuyến khích, mời gọi, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nghiên cứu, khảo sát, lập dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Thời gian qua, các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn đã không ngừng tăng nhanh về quy mô, tốc độ phát triển, góp phần tăng thu nhập, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn huyện. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế, đến nay các sản phẩm du lịch vẫn chưa đa dạng, phong phú, các tour tuyến còn nghèo nàn, đơn điệu. Việc đầu tư cho các sản phẩm du lịch còn hạn chế, chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa khai thác, phát huy được thế mạnh đặc trưng độc đáo vốn có của khu du lịch... Với thế mạnh về Du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, Suối Mỡ có nhiều thắng cảnh tự nhiên đẹp, nhiều vườn đồi đang phát triển mạnh mẽ là thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái; có những bản làng người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí sinh sống, mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hoá riêng thể hiện qua tiếng nói, trang phục truyền thống, nếp sinh hoạt, văn hoá ẩm thực, lời ca tiếng hát và cách thức sản xuất một số nghề thủ công đã tạo nên những giá trị văn hoá đặc trưng của người dân bản địa. Môi trường sinh thái và văn hoá bản địa là hai điều kiện cơ bản tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng cho Suối Mỡ. Để công tác xúc tiến du lịch, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch trong tour du lịch văn hóa tâm linh Tây Yên Tử trước hết cần tăng cường nghiên cứu thị trường, xác định rõ nhu cầu, sở thích của thị trường để định hướng đúng sản phẩm du lịch. Cùng với đó, xác định rõ và thống nhất giá trị thương hiệu du lịch Bắc Giang, Thái Nguyên, Hải Dương và Quảng Ninh với các dòng sản phẩm và sản phẩm đặc trưng gắn với nhu cầu và sở thích của du khách. TTXTDL
"Đánh thức" Khu du lịch tâm linh sinh thái núi Dành - Tân Yên, Bắc Giang
Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách "Đại Nam nhất thống chí", trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.
Du lịch lăng đá ở Hiệp Hòa: Tiềm năng còn bỏ ngỏ
Trên địa bàn huyện Hiệp Hòa hiện có 24 lăng đá cổ (nhiều nhất tỉnh Bắc Giang), trong đó có không ít công trình được các nhà nghiên cứu đánh giá tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê ở Việt Nam. Mặc dù tiềm năng lớn nhưng hầu như hoạt động du lịch của địa phương chưa có chuyển biến.
Hồ Cấm Sơn
Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình. Chính vì vậy mà có câu: “ Áo chàm xuống núi bơi thuyền/ Khăn nam phân phất như tiên dưới trần”.Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn. Tại các điểm này đều có thuyền máy để du khách thưởng ngoạn cảnh đẹp của hồ với sự hướng dẫn của chủ thuyền. Cảm giác chòng chành khi mới xuống thuyền dần nhường chỗ cho sự thích thú trước không gian ngày càng rộng mở của hồ.Theo anh Hoàng Văn Viên- một người dẫn đường thì: Người dân sống quanh hồ Cấm Sơn đến nay vẫn truyền tụng những câu chuyện huyền thoại, ly kỳ về sự tích núi Ba Hòn, suối Cấm, suối Mọc, suối Vảy Rồng, núi Kỉn, làng Mấn, đảo Lăn Lóc... Những câu chuyện kể mang màu sắc huyền thoại đã thổi hồn vào cảnh vật làm cho từng dãy núi, khu rừng bao bọc xung quanh mặt nước trở nên hữu tình ít nơi có được. Buổi sớm mai là thời gian thích hợp nhất để chiêm ngưỡng cảnh sắc, không gian mặt hồ Cấm Sơn. Những làn sương sớm phủ màu trắng đục huyền ảo trên mặt hồ dần tan vào sóng nước khi mặt trời ló rạng. Mặt hồ gợn sóng lấp lánh trong nắng sớm, vài chiếc thuyền nan lướt qua, chợt nao nao một nỗi niềm bâng khuâng xa vắng như văng vẳng câu ca của nhạc sĩ Phó Đức Phương “Thuyền ta ngược, thuyền ta xuôi, giữa dòng nước bạc, nhịp chèo ta bơi…”Được hoà mình vào thiên nhiên hoang sơ, cảm nhận bầu không khí trong lành, cảm nhận vẻ đẹp và thấy yêu quý thiên nhiên hơn. Lúc này, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ khi đứng trước một bức tranh thủy mặc làm nao lòng người. Cũng có lý khi có người đã ví hồ Cấm Sơn giống như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ, một chiếc máy điều hòa không khí khổng lồ cho miền sơn cước Lục Ngạn.Nếu đến Cấm Sơn vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7, du khách còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vùng đồi Lục Ngạn đỏ rực khi mùa vải chín. Thưởng thức những quả vải đỏ mọng, ngọt lịm đến tê đầu lưỡi và hòa vào không khí của một mùa thu hoạch của người dân vùng đồi.Không chỉ vậy, lòng hồ Cấm Sơn bao la cho nhiều cá tôm, vào những đêm trở trời, những chiếc vó của đồng bào dân tộc nơi đây có thể bắt được vài trăm kg cá một mẻ, đã từng có những con cá nặng đến 40-50 ký. Nên khi đến đây, du khách có thể được thưởng thức những món ăn dân dã nhưng không kém phần hấp dẫn của vùng đất này đó là món tôm hồ mới nướng, món gà đồi luộc thơm mùi lá chanh, món măng rừng luộc chấm muối ớt và nhâm nhi chén rượu Kiên Thành trên đảo nhỏ…Để rồi khi chia tay Cấm Sơn, chúng tôi cũng như nhiều du khách khác sẽ có cảm giác như bâng khuâng, tiếc nuối và mong có dịp trở lại nơi này./.
An lạc, một bình yên xa xôi
Hôm nay, bất chợt đọc được một bài viết cá nhân của một du khách tên Phạm Hải Yến trên trang Facebook về vùng đất An Lạc, tôi lại nhớ về những chuyến đi trên mảnh đất An Lạc một vùng đất “xa xôi” mà “bình yên”. Nói là “xa xôi” nhưng An Lạc cũng đâu phải xa lắm. Chỉ cách Hà Nội khoảng 180 km, An Lạc là xã cuối cùng của huyện Sơn Động vốn là huyện cuối cùng trong bản đồ hành chính Bắc Giang. Điểm cuối cùng ấy cũng là điểm gặp nhau của ba tỉnh Bắc Giang – Quảng Ninh - Lạng Sơn là nơi giao lưu văn hóa của những nhóm dân tộc khác nhau, và cũng là nơi hội tụ non nước với sông Lục Nam uốn mình qua bờ Tây Yên Tử để tạo nên những cảnh quan thiên nhiên đầy hoang xơ nhưng vô cùng cuốn hút.
Cuộn xuống để xem thêm bài viết