Nem nướng Liên Chung - Đặc sản nổi tiếng ở Tân Yên, Bắc Giang
Ảnh ST
Quan họ, lễ hội, di sản, làng nghề, ẩm thực và các điểm đến tại Bắc Ninh.
Cụ Tạ Văn Tảo, 84 tuổi, ở thôn Tân Mỹ, xã Lãng Sơn khẳng định: “ hai cây gạo song sinh này tồn tại đến nay khoảng hơn trăm năm tuổi. Nó gắn liền với sự tích ngôi miếu Bà Cô. Năm tôi lên 13 tuổi, làm nghề chở đò đưa khách qua sông Thương ở bến đò Đông Loan, thuộc xóm Bến, xã Hồng Phong, Tổng Đông Loan, Phủ Lạng Thương ( nay là thôn Tân Mỹ, xã Lãng Sơn, huyện Yên Dũng ( Bắc Giang) tôi đã thấy có cây gạo to ngay cạnh ngôi miếu. Theo tương truyền kể lại, một nữ tướng của nghĩa quân Nông dân Yên Thế, được Thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám cử đi dẫn một đội quân kéo xuống bảo vệ vùng Phủ Lạng Thương. Trong một trận chiến đấu với thực dân Pháp không cân sức, khi bị giặc truy đuổi, nữ tướng đã nhảy cầu Bắc Giang gieo mình xuống dòng sông Thương tự vẫn, quyết không chịu rơi vào tay giặc. Thi thể bà bị trôi dạt vào triền đê, nhân dân đem chôn cất và lập ngôi miếu thờ gọi là miếu Bà Cô. Cây Gạo cổ thụ song sinh từ bao đời nay, nhân dân trong vùng coi như một biểu tượng văn hóa lịch sử tôn nghiêm. Về mùa hè, bà con thường lui tới nghỉ hóng mát dưới bóng gốc cây hoặc mỗi khi đi làm đồng rảnh rỗi ngồi giải lao trò chuyện”.
Lế tế. Ảnh: Hoàng Anh
“ Ngày 16 tháng Giêng âm lịch hàng năm, là ngày nhân dân địa phương tổ chức mở lễ hội truyền thống dân gian, dâng hương tưởng nhớ các vị thần và tướng quân thủ lĩnh Lương Văn Nắm, hàng nghìn du khách thập phương tìm về dự lễ hội. Đình Hả được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia năm 1994 và đến năm 2012 di tích đền Hả được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt. Theo truyền thuyết và các nguồn tư liệu lịch sử thì đình, chùa Hả có lịch sử khởi dựng từ thời Lê - Nguyễn vào thế kỷ XVII. Huyện Yên Thế xưa bao gồm cả huyện Tân Yên bây giờ được chia thành 02 vùng là Yên Thế thượng và Yên Thế hạ. Năm 1957, Nghị định số 532-TTg, ngày 06/11/1957 của Thủ tướng Chính phủ chia tách huyện Yên Thế thành 02 huyện là huyện Yên Thế và huyện Tân Yên. Cụm di tích đình, chùa Hả có tổng diện tích là 1,53 ha, đình Hả tên chữ là “ Phúc thọ đình” vốn là đình cổ do nhân dân trong xã Thế Lộc xưa ( nay là xã Tân Trung) gồm các thôn: Thôn Hả, Chấu, Quyên và thôn Đanh hợp sức xây dựng để thờ đức “Cao Sơn, Quý Minh”, phía gian bên trái nhìn từ hướng chính diện được thờ tướng quân thủ lĩnh Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Vào tháng 10 năm 1885, khi quân Pháp đánh lên Yên Thế, giặc pháp xua quân đi tàn phá đốt xóm, làng trong đó đình Hả bị quân Pháp phá, dỡ lấy vật liệu về xây đồn, bốt. Ngôi đình hiện hữu bây giờ được chính thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám khởi dựng lại vào dịp tạm hòa hoãn với quân Pháp. Đình Hả tọa lạc trên sườn đồi của thôn Đình Hả, nhìn theo hướng chính diện là ngôi chùa Hả nằm cách đó khoảng 80 m. Kiến trúc quy hoạch theo lối “ Tiền Thần, hậu Phật” (đình trước, chùa sau) mang đậm tính truyền thống gắn với đời sống của miền quê vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ ở thế kỷ XVII. Bao quanh cụm di tích là một khu rừng Lim xanh cổ thụ với hàng trăm cây lim có tuổi đời hàng trăm năm tuổi tạo nên một quần thể tĩnh mịch tôn nghiêm và một không gian mát mẻ. Chúng tôi đến thăm cụ Lương Văn Niệm 68 tuổi, ở thôn Gia Tiến, xã Tân Trung là trưởng dòng họ Lương đời thứ 5, cháu đời thứ 4 của thủ lĩnh Đề Nắm. Ông Niệm dẫn chúng tôi ra cánh đồng lúa khu Vườn Can, thôn Gia Tiến thắp hương mộ tổ cụ Lương Văn Kình thân sinh ra anh hùng Lương Văn Nắm. Ông Niệm chậm rãi kể: “ Đề Nắm là con duy nhất của cụ tổ Lương Văn Kình ở khu rừng Tràm, làng Gia xưa ( nay là thôn Gia Tiến). Khi lớn lên, bố mất, Đề Nắm cùng mẹ về sống tại xóm Khủa, làng Hả (thôn Đình Hả), không ai biết ngày tháng năm, sinh và ngày mất của cụ Kình và cụ Nắm, mà chỉ nhớ ngày mất của cụ Kình là 20 tháng giêng âm lịch để lấy làm ngày giỗ”. Lặng một lúc, ông Niệm tiếp lời: “ Bố tôi kể lại: Lúc trẻ, Đề Nắm là người có tài trí thông minh, sức khỏe hơn người, tính cách ngang tàng, hào hiệp thương người. Ông hay giúp người yếu, lấy lại công bằng khi bị kẻ mạnh ức hiếp, lấy của nhà giàu chia cho người nghèo. Chính vì vậy lũ cường hào ác bá trong vùng ganh ghét và sợ ông, ngược lại ông được nhân dân trong vùng quý mến, tôn trọng. Ông còn được gọi với nhiều cái tên thân thuộc như: Đề Nắm, Đề Hả, Thống Hả”. Vùng Yên Thế thời bấy giờ, cuối thế kỷ XIX, nạn thổ phỉ, giặc dã, cướp bóc nổi lên như ong ở khắp nơi, nhân dân các làng Hả, Lèo, Mạc cử ông làm thống lĩnh, sau này đồng lòng theo ông đánh giặc chống Tây. Đề Nắm có ý chí lớn, tài cao và mưu lược quân sự. Ông biết tập hợp những nông dân yêu nước, có sức khỏe, ý chí lớn ra nhập nghĩa quân, tổ chức các trận đánh chống lại quân Thanh phỉ và quân Pháp xâm lược. Sau hơn 8 năm tổ chức lãnh đạo, chỉ huy nghĩa quân (1884-1892), Đề Nắm từng nhiều lần làm cho quân Pháp nhiều thất bại, tổn thất nặng nề. Sau hội nghị tháng 8/1888 tại Dĩnh Thép đã cử ra Bộ Chỉ huy thống nhất, đánh dấu bước chuyển biến về chất của phong trào Yên Thế vào phạm trù Cần Vương góp phần tạo ra sự thay đổi về tính chất của phong trào Yên Thế. Từ nông dân tự phát sang ý thức hệ phong kiến yêu nước, giàu lòng tự tôn dân tộc. Nhờ đó, nghĩa quân Yên Thế đã có thêm sức bật quyết định, họ tiếp tục tấn công vào đồn binh Bỉ Nội, Kép ( 25/9/1888); Úc Sơn (10/12); Lạn Tràng (16/12). Lại có cả một binh sĩ Pháp có tên là Pellét là lính thợ công binh cũng ra nhập vào hàng ngũ của nghĩa quân. Từ tháng 8/1889, thực dân Pháp đã cảm nhận nỗi lo sợ về cách đánh của nghĩa quân Yên Thế, toán chính theo lệnh của Đề Nắm, chiếm đóng tất cả các vùng phía Bắc Tỉnh Đạo, những sào huyệt chính đóng ở làng Dương Sặt và Thế Lộc. Ở đâu người Pháp cũng gặp một đám dân chúng đầy ác cảm, họ trốn chạy khi quân Pháp đến gần hoặc đặt chướng ngại vật khắp nơi trong làng ngăn đường tiến của quân Pháp, các điểm cao bị dân bản xứ chiếm đóng. Để thực hiện ý định tiêu diệt các lực lượng khởi nghĩa đóng tại các làng Dương Sặt (xã Thế Lộc), ngày 21/8/1889, hai viên Chánh quản Dallamgné và Picar đã huy động toàn bộ lính khố xanh ở hai đồn binh Bỉ Nội và Bích Động kéo đến tấn công vào làng Dương Sặt. Chúng đã vấp phải hàng loạt đạn của nghĩa quân quật ngã nhiều tên, đánh bật khi chúng tiến vào ngôi làng đã được phòng thủ kiên cố. Cuối cùng chúng buộc chúng phải rút lui khi được 80 lính của Chánh quản Moutin từ Bắc Ninh tới tăng chi viện. Chỉ huy nhiều trận đánh trả quân Pháp thông minh, táo bạo và hiệu quả của thủ lĩnh Đề Nắm, tên tuổi ông gây được tiếng vang khiến nhân dân khắp vùng ca ngợi. Với mục đích kiên trì chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành lại độc lập, tự do dân tộc. Thủ lĩnh Đề Nắm đã sớm lo việc xây dựng căn cứ đại bản doanh làm mục tiêu bàn đạp, chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh kiên trì, bền bỉ và lâu dài. Đó là đồn lũy Khám Nghè, đồn Hố Chuối và các làng chiến đấu Dương Sặt, Thế Lộc, Luộc Hạ và Cao Thượng. Nghĩa quân Đề Nắm xây được lòng tin vững chắc trong thế trận ủng hộ của toàn thể nhân dân trong vùng. Lôi kéo được nhiều binh lính người Việt, trong đó có cả người Pháp đi theo đứng vào hàng ngũ của nghĩa quân chính nghĩa. Qua lửa đạn, tên tuổi của Đề Nắm, Đề Thám, Bá Phức được nhân dân cùng nghĩa quân vô cùng kính trọng và cảm phục, khi nhắc đến tên các ông là kẻ thù khiếp sợ. Năm 1892, Đề Nắm bị thuộc hạ cấp dưới phản bội, hắn đã sát hại ông bằng thuốc độc. Hoàng Hoa Thám (Đề Thám) tổ chức Lễ tế cờ tại đình Đông (huyện Việt Yên) ra lệnh tử hình tên này để trả thù cho Đề Nắm. Củng cố lại lực lượng, tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân giương cao ngọn cờ khởi nghĩa đánh đuổi kẻ thù thực dân pháp xâm lược. Những ông Đề, ông Đốc, ông Quản, ông Thống đã hoàn toàn vắng bóng, thay vào đó là những Cả, những Hai, những Ba vừa gần gũi lại hết sức thân thương với nhân dân hai vùng Yên Thế Thượng và Yên Thế Hạ. Cuộc khởi nghĩa trường kỳ kháng chiến kéo dài suốt 30 năm dài trường kỳ đầy gian khổ như một bản hùng ca bất diệt, sáng chói thể hiện ý chí anh hùng của dân tộc. Cuộc khởi nghĩa Nông dân Yên Thế, đánh dấu mốc son đỏ ghi sử vàng lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam thế kỷ XIX - XX, trong đình Hả có 02 câu đối được ghi: Nhân sinh tự cổ thủy vô tử? Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. Dịch là: Xưa nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh.Năm 2021, UBND huyện Tân Yên quyết định đầu tư khởi công xây dựng công trình Dự án Đền thờ Lương Văn Nắm và hạng mục phụ trợ với tổng mức kinh phí 20 tỷ đồng( giai đoạn 1, năm 2021- 2022 có mức đầu tư 9,5 tỷ đồng). Đền thờ được thi công xây dựng tại cụm di tích lịch sử đình, chùa Hả, xã Tân Trung với tổng diện tích hơn 2.000m2. Đền được xây dựng lấy theo hướng của đình Hả (hướng Tây Nam), lưng tựa vào sườn đồi, hướng nhìn ra vùng đồng bằng thoáng rộng phía trước, cách đình, chùa Hả khoảng 70 - 80 m. Quy mô khoảng 300m2, mặt bằng hình chữ công, tiền tế với hình thức mái đao 1 tầng mái, tiếp đến là ống muống và Hậu cung xây kiểu hình thức mái đao 1 tầng mái tương tự với tiền tế. Hệ thống nội thất được bổ xung cơ bản như: Ban thờ, án gian, hoành phi câu đối, cửa võng… Dự án hoàn thành góp phần bảo tồn di sản văn hoá lịch sử của quê hương, dân tộc đồng thời nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, vật chất cho nhân dân địa phương trong vùng. Là điểm thu hút khách đến tham quan, du lịch của du khách thập phương, là công trình nghiên cứu văn hóa, lịch sử của dân tộc, góp phần thúc đẩy thu hút phát triển du lịch của tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới./. Trần Ngọc Sơn ( Hạt Kiểm lâm Tân - Việt - Hòa)
Săn mây phủ Đồng Cao - Ảnh TQ
Ba tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang đang tiếp tục công tác chuẩn bị để xây dựng hồ sơ trình UNESCO công nhận quần thể di tích danh thắng Yên Tử trải dài trên địa phận 3 tỉnh là Di sản thế giới.
Thực tế, mặc dù bảo tàng có sở hữu bộ sưu tập giá trị đến đâu mà không có người xem thì hiện vật chỉ là những di sản câm lặng; bảo tàng không có khách tham quan thì chỉ là những ngôi đền, tháp mang giá trị vật thể đơn thuần. Chỉ khi phát huy giá trị thực sự của hiện vật thu hút công chúng thì bảo tàng mới khẳng định được vị thế của nó trong đời sống xã hội hiện nay.
Sản phẩm mỳ chũ của huyện miền núi Lục Ngạn, Bắc Giang từ lâu đã nổi tiếng khắp nơi. Thế nhưng, quy trình làm ra sợi mỳ mỏng manh, thơm ngon, dẻo dai đó thì không phải ai cũng biết.Như "ngọc càng mài càng sáng", sợi mỳ chũ cũng phải trải qua một quy trình khắt khe cùng đôi bàn tay khéo léo của người thợ làm mỳ. Mỳ chũ kén gạo. Ngoài gạo Bao Thai thơm ngon được cấy trên vùng đồi Lục Ngạn thì chỉ có những hạt gạo trắng trong, căng tròn của quê lúa Thái Bình mới được dùng làm nguyên liệu làm mỳ.Vài năm trở lại đây, thứ gạo Lứt đỏ cấy trên vùng đồi Điện Biên cũng là nguyên liệu quan trọng, cho ra sản phẩm mỳ gạo Lứt. Thứ mỳ này hợp với người muốn giảm béo hay bị tiểu đường ăn kiêng. Tuy khó làm hơn mỳ trắng thông thường, nhưng với đôi bàn tay khéo léo, sự kiên trì và nhẫn nại của người thợ, sản phẩm mỳ gạo Lứt hoàn thiện, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.Gạo được sàng lọc kỹ càng, vo sạch bụi bẩn, loại bỏ tạp chất rồi ngâm nước trong vòng 4 - 8 tiếng đồng hồ rồi mới được đem xay nhuyễn thành thứ bột sánh mịn.Tráng bánh là công đoạn hết sức công phu. Người có kinh nghiệm mới có thể tráng được những mẻ bánh có độ chín vừa đủ. Nhiệt thấp, bánh không chín, sẽ giòn, dễ gẫy, mỳ ăn sậm sật, nát vụn. Chín quá thì dễ bị rách, mỳ không đẹp. Trong ảnh là mẻ mỳ gạo pha với rau quả.Mỳ chũ ngon cũng bởi được phơi tự nhiên. Sợi mỳ như thu cả hương vị của cái nắng, cái gió núi đồi Lục Ngạn.Khâu thái mỳ hết sức quan trọng. Sợi mỳ có 3 loại: mỳ sợi to, sợi nhỏ và mỳ sợi vừa. Dù là mỳ sợi loại nào cũng đòi hỏi người thợ phải đưa đều tay mới thái được những sợi mỳ tăm tắp.Bó mỳ đòi hỏi người thợ phải nhanh tay, khéo léo. Các bó mỳ phải được cuộn chặt, tròn, sợi không bị rối, trọng lượng tương đương nhau.Để đáp ứng nhu cầu thị trường, đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài mỳ trắng truyền thống, những người thợ làm mỳ còn khéo léo tạo ra các loại mỳ rau củ quả như: mỳ gấc, mỳ nghệ, mỳ đậu biếc... không chỉ đẹp, bắt mắt mà chất lượng cũng rất tuyệt hảo, được người tiêu dùng ưa thích.Người dân vùng Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang kể rằng: Từ xa xưa, một người Hoa kiều tên là Cả Tòng đến ngôi làng Thủ Dương ven bờ sông Lục làm ăn, sinh sống. Cứ năm hôm một lần, ông lại cùng vợ gánh những gánh mỳ trĩu nặng, qua đò sang sông bán ở chợ Chũ. Người dân quanh vùng mua mỳ của ông về ăn thấy ngon, truyền tai nhau mua ở chợ Chũ. Cứ như vậy, tên gọi mỳ Chũ trở nên thân quen, phản chiếu đời sống văn hóa và tâm hồn người dân Lục Ngạn lúc nào không hay.
Dân ca quan họ được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 30/9/2009. Thời gian qua, công tác bảo tồn, quảng bá và phát huy giá trị di sản quan họ ở nhiều địa phương và trên quy mô cấp tỉnh được chú trọng. Việc truyền dạy quan họ cho thế hệ trẻ được quan tâm, giúp cho loại hình nghệ thuật này sống mãi với thời gian.
Lăng đá họ Ngọ còn gọi là Linh Quang Từ được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) tại làng Thái Thọ, xã Thái Sơn (Hiệp Hòa, Bắc Giang). Đây là nơi lưu giữ thi hài Phương quận công Ngọ Công Quế, một võ quan nổi tiếng dưới triều vua Lê Hy Tông (1679 - 1705). Công trình được chạm khắc công phu, mang đậm dấu ấn điêu khắc thời Lê - Mạc, được bảo tồn gần như nguyên vẹn kể từ khi xây dựng.
Ảnh: Hà Yến
Cận Tết Nguyên đán Nhâm Dần, vùng núi phía Bắc phủ sắc màu rực rỡ bởi hoa mận, đào, mơ, cải, hồng. Cảnh đẹp mê mẩn của vùng cao đã thu hút nhiều du khách đến tham quan, trải nghiệm, thích hợp với xu hướng du lịch “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”.
Làng Văn hóa Đông Bắc có diện tích khoảng 1.6 ha, bao gồm những ngôi nhà gỗ truyền thống của các dân tộc: Tày, Sán Dìu, Nùng, nhà đất trình tường và tháp phật giáo 11 tầng; lầu nghinh phong; lầu thưởng nguyệt; bức phù điêu Con cháu Lạc Hồng và một số các cầu xây dựng theo kiến trúc cổ…; Tại đây cũng trưng bày các cổ vật, hiện vật sản xuất của các dân tộc Đông Bắc qua các thời kỳ như (Cối giã gạo, cối xay lúa, rìu đá, giáo đồng, lưỡi hái, cày, bừa, giỏ cua, lưới, nơm, gùi…). Ông Lê Văn Tiến- Giám đốc HTX và là người đầu tiên có ý tưởng hình thành mô hình làng văn hóa Đông Bắc cho biết: Mục tiêu xây dựng mô hình này là vừa bảo tồn các di sản, văn hóa truyền thống, phát triển du lịch cộng đồng vừa tiêu thụ các sản phẩm nông sản đặc trưng của địa phương, tạo việc làm nâng cao thu nhập cho thành viên HTX và góp phần giải quyết việc làm cho lao động. Vì ý thức được cần phải giữ gìn những giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể của quê hương Lục Ngạn, qua các công trình kiến trúc, các tài liệu hiện vật quý nên Làng văn hóa Đông Bắc được ông Lê Văn Tiến ấp ủ và đầu tư sức người, sức của biến giấc mơ của mình thành hiện thực trong thời gian ròng rã 20 năm với kinh phí đầu tư trên 70 tỷ đồng. Đây là giấc mơ và cũng là hoài bão của ông, nay đã thành hiện thực. Bên cạnh đó, ông cũng tạo dựng các không gian trưng bày những sưu tập đồ vật trang trí, công cụ lao động sản xuất đậm chất làng quê vùng Lục Ngạn. Trong năm 2021, Làng Văn hóa Đông Bắc tiếp tục được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Thông tin và Xúc tiến Du lịch quan tâm, từng bước ổn định và đi vào chiều sâu góp phần thu hút khách tham quan, khai thác có hiệu quả hơn không gian văn hóa các dân tộc. Các hoạt động thường niên được tổ chức đều đặn và ngày càng phong phú về nội dung và hình thức. Khi đến tham quan trải nghiệm du lịch cộng đồng tại Làng Văn hóa Đông Bắc, du khách sẽ có nhiều bất ngờ, thú vị về cảnh sắc thiên nhiên và con người nơi đây. Ngoài việc gìn giữ những nét phong tục văn hóa độc đáo của một số dân tộc hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Lục Ngạn như: Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu…, đến đây, du khách sẽ được nghe những câu chuyện thú vị về ý tưởng, thời gian xây dựng các công trình, nguồn gốc, ý nghĩa các hiện vật được bài trí trong từng công trình đó. Dù nằm giữa thị trấn khá nhộn nhịp và sôi động nhưng Làng Văn hóa Đông Bắc vẫn giữ trọn cho mình vẻ đẹp giản dị, trong lành. Tới thăm nơi đây, không chỉ hòa mình trong bầu không khí yên bình, du khách còn được tìm hiểu các giá trị về văn hóa, lịch sử, kiến trúc độc đáo và ấn tượng thông qua kiểu dáng, kết cấu, kiến trúc một ngôi nhà trình tường (ngôi nhà điển hình mà đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu trước đây đều ở) bằng hỗ hợp đất sét, sỏi son trộn đều vào các khuôn gỗ, dùng chày vồ đập cho đất gắn kết với nhau tạo nên một bức tường chắc chắn, tường nhà này dày từ 50 – 70 cm rất chắc chắn. Để có một ngôi nhà kiên cố có tuổi thọ hàng trăm năm thì người xây dựng phải mất rất nhiều thời gian và công sức. Ngôi nhà giúp che mưa che nắng tốt hơn do được đồng bào sử dụng những viên ngói âm dương để lợp mái nhà. Những viên ngói này không chỉ tăng hiệu quả che chắn của mái nhà mà còn làm đẹp cho ngôi nhà bởi qua thời gian mái ngói sẽ phủ màu rêu phong cổ kính rất đặc trưng. Điều mà hầu hết thế hệ trẻ sau này ít dịp được thấy do sự du nhập của nền kiến trúc hiện đại xuất hiện ngày một nhiều trong các thôn bản dân tộc ít người trong huyện Lục Ngạn. Mái nhà trình tường giản dị như chính chủ nhân của chúng, những con người bình dị mà kiên cường. Trong những năm trở lại đây, các ngôi nhà trình tường của người Tày – Nùng Lạng Sơn được du khách và các nhiếp ảnh gia chú ý tới nhiều, bởi nét cổ kính cũng như những giá trị văn hóa bản sắc dân tộc ẩn chứa trong mỗi ngôi nhà.
Cuộn xuống để xem thêm bài viết