Xã Xuân Lương (huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) có nhiều tiềm năng phát triển về du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Ngoài các điểm du lịch khám phá Thác Ngà, cây Lim xanh nghìn năm tuổi, một điểm đến khá thú vị nơi đây chính là bản Ven.
Bắc Giang là vùng đất cổ, trải qua bao thế kỷ tồn tại, quan họ - một thú chơi tao nhã vẫn luôn có sức lôi cuốn mạnh mẽ và có sức lan tỏa trong tâm hồn của những người dân Kinh Bắc, đặc biệt là người dân đôi bờ sông Cầu hay còn gọi là “dòng sông quan họ”. Đáng chú ý, sinh hoạt quan họ còn bảo lưu được rất nhiều những nét đẹp gắn với văn hóa truyền thống, trong đó có tục kết bạn.
Phát triển du lịch thông minh được xem là một trong những trụ cột đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, thời gian gần đây, nhiều đơn vị, doanh nghiệp (DN) bước đầu quan tâm ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quảng bá, phát triển du lịch.
Không chỉ liên kết về mặt kinh tế, các tỉnh Quảng Ninh, Hải Dương và Bắc Giang còn có thể thúc đẩy sợi dây liên kết vùng trong việc phát triển văn hóa, du lịch, nhất là du lịch tâm linh.
Ngành du lịch các địa phương đang nỗ lực thích ứng và khôi phục hoạt động du lịch trong tình hình mới, cùng thực hiện mục tiêu kép “vừa bảo đảm an toàn phòng, chống dịch vừa phục hồi kinh tế”.
Thời điểm này, khi dịch Covid-19 cơ bản được kiểm soát, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh bắt đầu có dấu hiệu phục hồi sau một thời gian trầm lắng. Bên cạnh việc giảm giá, kích cầu du lịch trong tỉnh Bắc Giang, các doanh nghiệp du lịch còn quan tâm khai thác các tour, tuyến trong nước.
Thử nghiệm một tua du lịch về các Di tích Quốc gia đặc biệt trên địa bàn huyện Tân Yên. Theo Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích lịch sử: Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế là Di tích quốc gia đặc biệt. Có 23 di tích và cụm di tích được công nhận nằm trên địa bàn 4 huyện liền kề nhau: Yên Thế, Tân Yên, Việt Yên, Yên Dũng của tỉnh Bắc Giang.Trong đó Tân Yên có 12 cụm với 15 di tích. Chiếm tới hơn 1 nửa. Đó là Đình, chùa Hả xã Tân trung. Điểm di tích này cực kỳ quan trọng vì trong Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế đây là nơi Đề Nắm đã làm lễ tế cờ, chính thức phát động cuộc khởi nghĩa và cũng là quê hương của Lương Văn Năm – Vị thủ lĩnh đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Khu lưu niệm danh nhân Hoàng Hoa Thám tại làng Trũng, xã Ngọc Châu. Điểm di tích này là nơi Hoàng Hoa Thám cư ngụ thời niên thiếu và trưởng thành. Đồ rằng khi mất Thống Luận đã đưa vị Chủ tướng của mình về đây chôn cất. Tại đây hiện có đình, đền, chùa, điếm, cố trạch và phần mộ người thân của Hoàng Hoa Thám. Đình Cao Thượng tại thị trấn Cao Thượng, cửa ngõ vào vùng Yên Thế xưa. Nơi đã diễn ra những trận đánh ác liệt làm nổi danh tên tuổi của các ông đề, ông Đốc và Nghĩa quân Yên Thế. Ngoài ra là Cụm di tích Cầu Vồng, xã Song Vân nơi lưu truyền câu phương ngôn xứ Bắc nổi tiếng Trai Cầu Vồng Yên Thế. Đình Dương Lâm xã An Dương nơi Đề Thám gửi con học hành và là địa điểm nghĩa quân họp bàn kế đánh Tây.Đình Nội xã Việt Lập lưu truyền việc Đề Thám giúp dân bắn đình. Đình làng Chuông ở làng Chuông Nhã Nam quê của Dường Văn Truật tức Đề Truật – 1 trong 7 tướng tài của Nghĩa quân Yên Thế. Đền Gốc Khế, Chùa Phố tại Nhã Namnơi hoạt động của nhiều tướng lĩnh của nghĩa quân. Đền thờ Cả Trọng (đền Gốc Dẻ) là ngôi đền đầu tiên thờ Cả Trọng - con trai cả của Đề Thám và cũng là một vị chỉ huy tài giỏi của nghĩa quân.Ao Chấn Ký là nơi thực dân Pháp thả tro cốt đầu Hoàng Hoa Thám và hai thủ hạ thân tín của ông.Nghĩa địa Pháp, đồi Phủ - nơi chôn cất những lính Pháp, Việt (theo Pháp) chết trận khi giao chiến với nghĩa quân Yên Thế. Đồi Phủ là địa điểm tập kết của quân Pháp cho các cuộc hành binh cũng là nơi hai lần chứng kiến sự kiện liên quan đến hai cuộc hoà hoãn giữa thực dân Pháp và Đề Thám. Đó là chưa kể 1 số các di tích khác liên quan đến cuộc khởi nghĩa này, trong đó có Đồi Ngàn Ván xã An Dương nơi diễn ra trận đánh cuối cùng của Hoàng Hoa Thám. Có thể nói Tân Yên có những điểm di tích cực kỳ quan trọng và rất có ý nghĩa đối với Khởi Nghĩa Nông dân Yên Thế, với Đề Nắm, Đề Thám hai vị thủ lĩnh tối cao. Nhưng trong 15 Di tích Quốc gia đặc biệt của Tân Yên, có đến 2 di tích là: Ao ông Chấn Ký, Nghĩa địa pháp chỉ còn cái tên. Đồi Phủ bao năm vẫn chỉ là 1 quả đồi trống trơ trụi. Đền Đức Trọng xuống cấp. Sự kết nối của các di sản này là khá rời rạc vì không có những câu chuyện có đầu có cuối để kể. Trong khi các câu chuyện kể chính là để kết nối, móc xích các di tích lại với nhau. Hơn thế, giá trị của những câu chuyện phía sau mỗi di tích, di sản sẽ làm cho du khách hiểu hơn về điểm di tích, khơi gọi sự tò mò cần tìm hiểu và làm cho họ cảm thấy mình đang tham dự vào sinh hoạt của cộng đồng. Bên cạnh đó, đến nay với các điểm di tích liên quan đến Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế tại Tân Yên hầu như không có các hiện vật liên quan trực tiếp tới cuộc khởi nghĩa. Vô hình chung các đình chùa đền miếu ở đây nó cũng đều đều, bằng bằng như các đình chùa đền miếu chỗ khác mà không có gì nổi trội, ấn tượng để nói, để nhớ. Như đã nói: Kho tàng di sản gồm loại hình vật thể, phi vật thể cùng hệ thống di tích thiên nhiên, lịch sử, văn hóa là nguồn tài nguyên của du lịch. Tiềm năng Tân Yên không thiếu, nhưng trong những năm qua, ngoại trừ Di tích Đề Truật đã được nhân dân địa phương xây dựng lại thì Tân Yên rất hạn chế trong việc tìm hiểu bổ xung thêm các điểm di tích liên quan đến Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế. Đặc biệt thiếu là mảng Làng chiến đấu – di sản của Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế, tập trung tại Yên Thế hạ. Do đó, tuy là đất phát tích của Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế nhưng không tạo được thu hút, ngay cả vào mùa lễ hội du khách đến thăm viếng tìm hiểu cũng không nhiều và kém xa Yên Thế, nơi chỉ có 9 điểm Di tích QGĐB liên quan đến Khởi nghĩa này. Ở một góc độ khác. Mấy năm qua Tân Yên đã xây dựng và cắm hệ thống các tấm bảng, biển đề tên, chỉ đường vào các di tích. Nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó. Bản thân những tấm biến này cần chi tiết hơn. Cần đính kèm với những thông tin tối giản nhất để du khách có thể hiểu, đây là di tích gì. Liên quan đến ai. Thời nào. Thiếu thông tin, thiếu tính liên kết giữa các điểm di tích, giữa các địa phương, hoặc chỉ mang tính địa phương cục bộ nên không phát huy hết giá trị di tích. Thêm vào đó cầu nối giữa các di tích với du khách tham quan là đội ngũ Hướng dẫn viên du lịch. Cả huyện Tân Yên hiện nay có 2 hướng dẫn viên nhưng trình độ còn hạn chế, sự hiểu biết mới chỉ tập trung vào 1 số điểm di tích nhất định. Trong khi tại cơ sở ban quản lý di tích phần do lớn tuổi, phần do không được đào tạo chuyên môn về lĩnh vực văn hóa lịch sử nên ngại nói về di tích đó nên du khách có đến cũng chỉ nhìn ngó, chiêm bái rồi đi. Với hệ thống các điểm di tích QG đặc biệt còn thiếu và yếu như vậy, các điểm di tích khác chưa thể nói lên được điều gì và du lịch ở Tân Yên vẫn chỉ ở tiềm năng. Đây cũng là thiệt thòi cho Tân Yên vì khi hoạt động du lịch phát triển, nó sẽ là cầu nối hữu hiệu giúp quảng bá, phát huy giá trị di tích, mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng, từ đó giới thiệu hình ảnh, văn hóa Tân Yên tới công chúng. Tân Yên có lợi thế khi có nhiều di tích LSVH, đặc biệt là cái nôi của Phong trào Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế. Cho nên, trên nền tổng thể, ngành văn hóa huyện Tân Yên cần có cái nhìn tổng quan, có chiến lược cụ thể hơn trong công tác phát triển du lịch. Để có thể phát triển du lịch trước hết cần củng cố lại hệ thống di tích, đặc biệt là các di tích liên quan đến Cuộc Khởi nghĩa Nông dân Yên Thế, nhất là các di tích về các ông đề, ông Đốc, núi Châu, làng chiến đấu ở Quế Nham, Cao Thượng, Liên Sơn, Tân Trung, núi Ngàn Ván nơi diễn ra trận đánh cuối cùng của Đề Thám. Xây dựng hệ thống chuyện kể để kết nối hệ thống di tích này. Đẩy mạnh công tác truyền thông, định hướng, nâng cao nhận thức của xã hội, cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường du lịch. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng phong trào ứng xử văn minh thân thiện với du khách, giữ gìn trật tự trị an, vệ sinh môi trường. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa và nên linh hoạt trong quá trình tìm nguồn kinh phí để tu bổ di tích. Có cơ chế cho doanh nghiệp, các mạnh thường quân như giảm thuế kinh doanh, thuế thu nhập một phần nếu họ có những đóng góp trực tiếp cho việc tu bổ di tích, mua di vật hiến tặng vào di tích, tránh ỷ lại dựa dẫm vào nguồn ngân sách. Di sản là tài nguyên du lịch không thể thay thế, cho nên phải giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển du lịch theo hướng bền vững, tôn trọng di sản gốc. Đẩy mạnh liên kết với các huyện trong tỉnh, đặc biệt là Tân Yên – Yên Thế hình thành các tour, tuyến du lịch chung. Có như vậy mới có thể sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả và nhân văn nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa mà cha ông để lại và đưa du lịch dần trở thành ngành kinh tế, gắn phát triển du lịch với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tân Yên. Châu Giang
Trong khu phố My Điền, thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên còn bảo lưu được ngôi cổ tự có tên Thánh Minh tự. Có lẽ đây là ngôi chùa cổ độc đáo hiếm thấy ở Bắc Giang. Chùa được xây dựng từ thời Lý và đã được tu sửa nhiều lần. Những hiện vật ở chùa là minh chứng cho ngôi cổ tự đã được khởi dựng cách đây lâu đời.
Vương quốc vải thiều – danh hiệu được mệnh danh cho vùng đất Lục Ngạn, vùng đất nổi tiếng với hơn 18.000 ha vải thiều với sản lượng thu hoạch hàng năm lớn nhất Việt Nam. Toàn tỉnh Bắc Giang hiện có diện tích gần 30.000 ha vải thiều; tập trung nhiều ở các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang. Đến Bắc Giang vào dịp đầu xuân, điều du khách cảm nhận là sự choáng ngợp trước cảnh hoa vải thiều bung nở trắng các triền đồi. Màu trắng thuần khiết, nối tiếp nhau trải dài bên những miệt vườn. Thật lạ kỳ, trên mảnh đất này đều có sự góp mặt của những loài cây nổi tiếng thơm ngon: vải thiều, hồng Nhân hậu, na dai, cam đường Canh, táo Thiện phiến, nếp Phì Điền, gạo Bao Thai hồng…Riêng vải thiều, loài quả từng được xem là sản vật tiến vua, là cây xóa đói giảm nghèo đang khoe sắc đua hương giữa tiết xuân, hứa hẹn một vụ mùa bội thu, được giá với niềm mong đợi của người dân vùng đất vải.
Vườn tháp chùa Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt YênTiềm năng phát triển du lịch lớnTheo thống kê Bắc Giang là địa phương có hệ thống đình, chùa phong phú và đa dạng với 2.237 di tích lịch sử, văn hóa trải khắp trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có 711 di tích được xếp hạng, 101 di tích cấp quốc gia và 583 di tích cấp tỉnh. Một số di tích tiêu biểu như: Di tích quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm (Yên Dũng) là chốn tổ thiền phái Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập thế kỷ XIII, nơi lưu giữ kho Mộc bản với 3.050 bản đã được vinh danh là Di sản Tư liệu ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ với trên 1.000 ha đất rừng đặc dụng có thảm thực vật phong phú, được thiên nhiên ưu đãi với những dòng thác quanh năm tung bọt trắng xóa, các di tích gắn với truyền thuyết Công chúa Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương. Hồ Khuôn Thần với diện tích mặt nước 145 ha, bao quanh là trên 800 ha rừng. Hồ Cấm Sơn có diện tích 2.600 ha, gồm nhiều đảo, bao quanh bởi các ngọn núi cao, rừng phòng hộ, cảnh quan sơn thủy hữu tình, không gian yên bình, hoang sơ.Di tích quốc gia đặc biệt chùa Bổ Đà (Việt Yên) với bộ mộc bản được công nhận là Bảo vật quốc gia. Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt những điểm khởi nghĩa Yên Thế gắn với tên tuổi người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám; Di tích đình, chùa xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang gắn với cây Dã Hương ngàn năm tuổi đã được vua Lê Cảnh Hưng phong cho là “Quốc chúa đô mộc Dã Đại Vương”; Di tích chiến thắng Xương Giang.Ngoài ra, Bắc Giang còn được biết đến với di sản văn hóa phi vật thể như: Dân ca Quan họ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; hay Ca Trù đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.Có thể khẳng định, Bắc Giang có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch lịch sử, du lịch văn hóa tâm linh. Một số điểm có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp tiêu biểu như: Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử với diện tích 12.265 ha, có nhiều cảnh đẹp như rừng nguyên sinh Khe Rỗ, thắng cảnh suối Nước Vàng, Đồng Bài, Đồng Rì, Khe Đin, Đá Ngang. Khu cao nguyên Đồng Cao nằm ở độ cao gần 1.000m so với mặt nước biển, khí hậu quanh năm mát mẻ có bãi đá cổ độc đáo, hang Vua trong lòng núi, cảnh quan nguyên sơ.Thu hút đầu tư cho du lịch phát triểnTrao đổi với chúng tôi, chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương cho biết: “ Bắc Giang rất quan tâm việc quảng bá về địa phương thông qua các sự kiện ngoại giao, văn hóa, xúc tiến thương mại, du lịch trong nước và quốc tế. Hiện, Bắc Giang đã ký kết liên kết phát triển du lịch với các tỉnh Đông Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh, nhất là chương trình phối hợp liên kết phát triển du lịch với thành phố Hà Nội. Thời gian tới, khi tỉnh đảm bảo mọi điều kiện để phát triển du lịch quy mô lớn, chúng tôi sẽ xây dựng chiến lược tuyên truyển, quảng bá mạnh hơn, xứng với tiềm năng, lợi thế phát triển du lịch của tỉnh nhà”.
Đặt trong xu thế chung với nhiều địa phương khác, dịch bệnh đã tác động không nhỏ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội của Bắc Giang trong đó phải kể đến hoạt động của ngành du lịch. Từ khi đại dịch bùng phát trở lại hầu hết hoạt động, sự kiện lớn trong lĩnh vực văn hóa thể thao du lịch của tỉnh buộc dừng tổ chức. Hàng loạt hoạt động, kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể dục thể thao, du lịch khác cũng đã phải giảm quy mô, hoặc dừng hoạt động. Đặc biệt, dịch Covid-19 bùng phát mạnh vào dịp trước và sau tết Nguyên Đán đúng mùa cao điểm đón khách du lịch lễ hội, tâm linh, trên 400 lễ hội truyền thống (01 lễ hội cấp tỉnh, 03 lễ hội cấp huyện và các lễ hội truyền thống) đã phải giảm quy mô, hoặc dừng tổ chức ( Lễ hội Xương Giang, Lễ hội Yên Thế,…) Các khu, điểm du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh buộc phải tạm dừng đón khách (Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà, Khu Du lịch Tây Yên Tử…), hoặc hoạt động dè dặt (Di tích quốc gia đặc biệt Khu Di tích chiến thắng Xương Giang ) để đảm bảo an toàn tránh rủi ro dịch lây lan.
Với mục tiêu khuyến khích sự sáng tạo, năng động của người dân ở mỗi vùng quê, Bắc Giang đã triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) bài bản, hiệu quả. Đến nay, toàn tỉnh có gần 100 sản phẩm OCOP cấp tỉnh.
Nội dung bia đá niên hiệu Cảnh Hưng thứ 14 (1753) dựng ở đình Hạc Lâm (Hương Lâm) và sắc phong lưu giữ tại dòng họ Nguyễn Thế cho biết khá rõ về lai lịch và công trạng của Quận công Nguyễn Thế Lai: Ông sinh trưởng trong một gia đình có thế lực ở xã Hạc Lâm, tổng Mai Đình, huyện Hiệp Hoà. Từ nhỏ, Nguyễn Thế Lai đã khôi ngô, tuấn tú thông minh hơn người. Khi trưởng thành, ông sớm bước vào chốn quan trường, đóng góp tài sức cho vương triều Lê-Trịnh. Thời gian ông nhận chức làm quan (từ 1763 đến 1775) cũng là lúc giai cấp phong kiến lo củng cố nền chuyên chế và lao vào con đường tranh ngôi đoạt quyền. Nạn cát cứ và nội chiến kéo dài làm cho thế nước giảm sút. Năm 1763 tháng 9, triều đình Lê -Trịnh giảm bớt số quan viên trong 6 bộ, nhưng cùng năm đó lại ban tặng sắc phong cho tướng công Nguyễn Thế Lai. Với chức vụ Đồng Tri giám sự, Thuyên trung bá trụ quốc thượng liêu Nguyễn Thế Lai được dự vào hàng chánh ngũ phẩm giống như các quan Hàn lâm viện thị độc, Thiêm đô ngự sử. Trong năm thứ bậc hàng phẩm tước, Nguyễn Thế Lai được triều đình ban tặng dự vào hàng tước bá. Do có nhiều công trạng thảo Thanh Hoa, Sơn Tây và Tuyên Hưng đẳng đạo, năm 1775 triều đình lại hai lần ban tặng sắc phong cho Nguyễn Thế Lai. Lần thứ nhất vào tháng 2, sắc phong cho Phó thủ hiệu hữu, Phó cai quản, Phó Tri thị nội thư, tả công Thị nội giám, tổng Thái giám, phục Trung Hầu Nguyễn Thế Lai, lần thứ hai vào 15 tháng 12 sắc phong Tướng quân trung thành môn, vệ uý thọ vi tuỳ kiêm thông trấn quản đại tư mã Quận công…”Như vậy cuộc đời làm quan cho triều đình Lê -Trịnh ông đã ba lần được ban tặng chức tước. Với chức Tổng Thái giám, Phục Trung hầu Nguyễn Thế Lai đã được dự vào hàng chánh tam phẩm, sau đó ông lại được phong tước cao nhất là Quận công.Khi về hưu trí tại quê nhà, ông dốc lòng tâm đức ra cung tiến tiền của cho dân làng tu dựng đình, chùa, mặt khác để bà con trong gia tộc xây cất phần Lăng mộ của chính mình. Bia đá ở đình làng Hạc Lâm ghi: “Khi đương thời làm quan, ông nổi tiếng thanh liêm, hoà kính với mọi người, giàu lòng thương dân, luôn quan tâm đến người dân quê nhà. Dân làng cảm tạ ân đức ấy mà kính trọng tôn sùng. Bản xã từ già đến trẻ thuận lòng ưng lập cha mẹ làm hậu Thần. Khi đó Nguyễn Thế Lai đã cấp cho bản xã 300 quan tiền cổ và 3 mẫu ruộng tốt để thu hoa lợi chi dùng việc sắm lễ vật, tế lễ về sau…Vì vậy dân xã lập bia đá để lưu truyền đến muôn đời sau biết được ân đức, lòng hiếu nghĩa, tích đức, tích thiện của ông Nguyễn Thế Lai và cha mẹ mà thờ phụng”. Do có nhiều công lao với dân làng, ông còn được phối thờ trong đình làng Hạc Lâm. Hằng năm ngày 7 tháng Giêng dân làng sắm lễ cúng Hậu tại đình làng theo phong tục truyền thống. Tại Từ đường của gia tộc còn lưu giữ được ngai thờ, bài vị và 4 đạo sắc phong của triều đình nhà Lê phong tặng cho Quận công Nguyễn Thế Lai.
Tết đến, xuân về, đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) lại náo nức tổ chức các hoạt động mang đậm nét truyền thống của dân tộc mình. Giờ đây, dù những phong tục, tập quán có thay đổi, đơn giản hơn song nét đẹp truyền thống vẫn được lưu giữ vẹn nguyên.