Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM vừa công bố bản án vụ tranh chấp tài sản sau ly hôn và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa ông Hà (74 tuổi) và bà Nguyễn (67 tuổi, ngụ TP Đồng Nai).
HĐXX cấp phúc thẩm đã bác kháng cáo của ông Hà, giữ nguyên bản án sơ thẩm, xác định văn bản hai vợ chồng lập trước khi ly hôn thể hiện rõ việc giao toàn bộ nhà đất cho bà Nguyễn quản lý, sử dụng.
Hồ sơ vụ án thể hiện, ông Hà và bà Nguyễn kết hôn năm 1977. Ba năm sau, ông Hà được điều động về công tác tại một trường ở Biên Hòa và được cơ quan bố trí căn nhà để ở.
Năm 1984, trường hóa giá căn nhà và giao phần đất cho ông Hà để ổn định cuộc sống gia đình. Vài năm sau, ông tiếp tục được quyết định giao sử dụng lâu dài 150 m2 đất tại khu vực này.
Tháng 6/1994, khi quan hệ hôn nhân rạn nứt, hai người lập văn bản thỏa thuận. Nội dung thể hiện toàn bộ nhà cửa, đất đai, cây cối trong khu nhà cũ được cơ quan giao thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn. Từ thời điểm đó, các khoản nợ phát sinh do ai vay thì người đó tự chịu trách nhiệm.
Đến năm 2000, TAND TP Biên Hòa công nhận thuận tình ly hôn. Về tài sản, quyết định ly hôn ghi nhận hai bên tự giải quyết.
Trước đó, bà Nguyễn đã nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2008, UBND TP Biên Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất rộng hơn 561 m2 đứng tên riêng bà.
Năm 2018, ông Hà khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bà Nguyễn và chia một nửa giá trị nhà đất. Ông cho rằng đây là tài sản chung hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nguồn gốc do cơ quan cấp cho mình chứ không phải bà Nguyễn mua như hồ sơ kê khai.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông tiếp tục yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn và ngân hàng, cho rằng tài sản đang có tranh chấp nên không đủ điều kiện bảo đảm khoản vay.
Đáp lại, bà Nguyễn cho biết hai bên đã tự nguyện lập văn bản năm 1994, thống nhất giao toàn bộ nhà đất cho bà quản lý. Sau ly hôn, bà sử dụng ổn định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận hợp pháp.
Bà cũng cho rằng trước khi ly hôn ông Hà đã có cuộc sống riêng, có con với người phụ nữ khác; đồng thời ông từng bán một phần đất và nhận tiền bồi thường nên nay không có căn cứ yêu cầu chia tài sản.
UBND TP Biên Hòa xác định việc cấp giấy chứng nhận cho bà Nguyễn năm 2008 được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật tại thời điểm đó.
Phía ngân hàng cho biết trước khi ký hợp đồng tín dụng và nhận thế chấp, ngân hàng đã kiểm tra tình trạng pháp lý của tài sản, xác định giấy chứng nhận do bà Nguyễn đứng tên riêng sau khi hai bên đã ly hôn. Việc thế chấp được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Hồi đầu năm, TAND tỉnh Đồng Nai (nay là TP Đồng Nai) đã xử sơ thẩm, tuyên bác toàn bộ yêu cầu của ông Hà.
Theo tòa, không có căn cứ xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn trái pháp luật, đồng thời không có cơ sở hủy hợp đồng thế chấp của bà với ngân hàng.
Không đồng ý với bản án này, ông Hà kháng cáo. Ông Hà cho rằng giấy thỏa thuận năm 1994 chỉ nhằm tạo điều kiện để bà Nguyễn xử lý nợ chứ không phải từ bỏ quyền sở hữu tài sản; đồng thời đề nghị được chia một phần đất để có nơi ở.
Tuy nhiên, HĐXX nhận định nội dung bản thỏa thuận năm 1994 thể hiện rõ ý chí của ông Hà giao toàn bộ nhà đất cho bà Nguyễn. Ngoài lời trình bày, ông không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc ký văn bản do bị ép buộc hoặc chỉ nhằm mục đích trả nợ.
Tòa cũng ghi nhận thực tế trước khi ly hôn, ông Hà đã có con riêng sinh năm 1999, phù hợp với lời trình bày của bà Nguyễn về việc quan hệ hôn nhân đã chấm dứt từ nhiều năm trước.
HĐXX phúc thẩm nhận định, bản án sơ thẩm đã đánh giá đầy đủ chứng cứ và áp dụng đúng quy định pháp luật, nên bác kháng cáo của ông Hà.
Bình Nguyên
* Tên đương sự đã được thay đổi