Chùa Kem hay còn gọi là Sùng Nham tự, thuộc tổ dân phố Kem, thị trấn Nham Biền, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) không chỉ là trung tâm sinh hoạt văn hóa tôn giáo, nơi đây còn từng là căn cứ của những nghĩa quân, du kích cách mạng ở nhiều thời kỳ, trong đó có nghĩa quân Yên Thế. Chùa Kem - di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt đã và đang được giữ gìn chu đáo, thu hút đông đảo khách thập phương tới vãn cảnh, lễ chùa.
Công an Khu XII gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Ninh, Quảng Yên (gồm cả Hòn Gai, Đông Triều, Chí Linh ngày nay), được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 1946 đến năm 1948, địa điểm thôn Nguộn, xã Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là tổ dân phố Chùa Nguộn, thị trấn Nhã Nam, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Cán bộ, chiến sỹ Công an Khu 12 được bố trí ở, làm việc tại Chùa Tứ Giáp, tên chữ là “Đại Phúc Tự”. Ngày 11/3/1948, tại chính ngôi chùa Tứ Giáp, đồng chí Hoàng Mai, Giám đốc Công an Khu XII đã vinh dự nhận được thư của Bác Hồ góp ý về tờ báo “Bạn Dân” do Công an Khu XII xuất bản. Đặc biệt, trong thư Bác đã nêu 6 điều về “ Tư cách người Công an cách mệnh” mà sau này đã trở thành 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân: Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ. Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc, phải tận tụy. Đối với địch phải, cương quyết, khôn khéo.Sau khi nhận thư Bác, Công an Trung ương đã phát động phong trào học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy tới lực lượng CAND trong cả nước. Do đó, Chùa Tứ Giáp được coi là nơi khởi nguồn lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ với lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.
Cảnh quan khu đền Xương GiangCác địa điểm chiến thắng Xương Giang bao gồm: Cửa Đông Bắc, cửa Đông, cửa Bắc, cửa Tây Nam, cửa Nam, khu trung tâm, dấu vết tường thành phía Đông, đoạn sông Xương Giang, hố khai quật khảo cổ học số 2 - số 3, giếng Phủ, đền Thành. Năm 2010 UBND tỉnh Bắc Giang đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng công trình bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị khu di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang. Dự án được khởi công xây dựng từ 2012 đến năm 2017 hoàn thành giai đoạn 1 với diện tích khoảng 10ha với tổng kinh phí đầu tư trên 230 tỷ đồng. Với những giá trị lớn về lịch sử, văn hóa và khoa học, ngày 31/12/2019, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1954/QĐ-TTg xếp hạng “địa điểm chiến thắng Xương Giang” là Di tích cấp Quốc gia đặc biệt. Tiếp đó, ngày 13/5/2020, UBND tỉnh Bắc Giang ra quyết định số 382/QĐ-UBND công nhận Địa điểm Chiến thắng Xương Giang là điểm du lịch.Khu di tích rộng khoảng 10 ha. Qua Cổng tam quan là trục thần đạo đưa ta tới sân hành lễ. Trung tâm quần thể di tích, là công trình Đền Xương Giang có diện tích 1,3 ha, tất cả các hạng mục công trình tính từ ngoài vào trong theo trục dọc đăng đối, cân xứng được đặt trong khuôn viên cây xanh thoáng mát, đẹp đẽ: Nghi môn, bình phong; Hai dãy tả vu, hữu vu; Lầu chuông, lầu trống, Sân chính; và đền. Đền được xây dựng gồm ba tòa: Tiền bái, Thiêu hương và Chính cung Ngôi Đền tọa Đông Nam hướng Tây Bắc. Học sinh tham gia chương trình du lịch trải nghiệm tại Địa điểm chiến thắng Xương GiangPhía trước ngôi Đền là cổng Tam quan với 3 lối đi chính rồi đến Nghi môn và Bình phong. Nghi môn được xây dựng theo lối tứ trụ kình thiên, uy nghi trầm mặc giữa đất trời. Nghi môn được khắc câu đối với dòng chữ quốc ngữ, có lẽ đây chính là điểm đặc biệt của ngôi Đền, bởi lẽ ngôi Đền thờ vị Vua anh hùng áo vải nên khi thiết kế công trình, các nhà khoa học, sử học đã quyết định tất cả các câu đối trong đền đều được viết bằng chữ quốc ngữ để mọi người dân đều có thể hiểu được. Và để phục vụ dân chúng dù người già trẻ, lành lặn hay khiếm khuyết cũng có thể tới thăm đền, 2 bên phải và trái có lối đi dành riêng cho người khuyết tật.Phía bên trái sân là tả vu và lầu chuông, phía bên phải sân là hữu vu và lầu trống. Qua nghi môn là sân hội lớn lát đá vuông. Nơi đây linh khí hội tụ, các công trình kiến trúc hài hòa với cảnh quan càng làm tôn lên vẻ đẹp uy nghiêm của công trình. Người xưa có câu tụ nhân như tụ thủy. Đền Xương Giang phía lưng gối đầu vào một gò đồi cao, xa xa là núi ông Trạng làng Kế. Như vậy có thể nói Đền Xương Giang có thế cục đầu gối sơn, chân đạp thủy.Lầu Trống tại Đền Xương GiangHệ thống cây xanh được trú trọng, ngoài tác dụng tạo cảnh quan, bóng mát, giúp công trình hòa quện với thiên nhiên còn làm tĩnh tại tâm hồn người hành hương, truyền tải ý nghĩa về mặt tâm linh.Tấm bảng tự Đền Xương Giang được sơn son, thếp vàng khi màn đêm buông xuống, 3 chữ vàng nổi lên trên nền đỏ rực rỡ cả một vùng.Hai dãy lầu chuông, lầu trống là sự thể hiện cho hào khí Xương Giang đời đời bất diệt. Tả vu, hữu vu là sự tương trưng cho bá quan văn võ về chầu vào các dịp thiết triều. Ba tòa đền chính được thiết kế theo hình chữ Vương, tả vu, hữu vu theo lối chữ nhất. Lầu chuông, lầu trống theo lối ngoại vi, nội vi, công trình nghi môn theo lối bộ chấm hỏa và hai hồ nước hai bên tượng trưng cho chữ thủy. Vì vậy Đền Xương Giang hội đủ năm hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Tòa Tiền bái Là nơi vào các dịp lễ, ngày tế, ngày hội, quan viên ban tế của Khu di tích làm lễ tế các anh hùng nghĩa sĩ của Nghĩa quân Lam Sơn. Tòa Tiền bái gồm 5 gian 2 trái, 8 mái chồng diêm, đao cong mái lượn, đủ 6 hàng chân cột cho mỗi vì, đứng từ cổng nghi môn vào có thể thấy 1 khung cảnh kiến trúc cổ truyền uy nghi bề thế. Gian giữa là hương án ban công đồng, nơi thờ phụng ngũ tướng, ngũ phương, các vị thổ công, thành hoàng, anh hùng nghĩa sĩ cùng các vong linh khác nữa.Tòa Tiền bái là công trình kiến trúc kết hợp giữa đá và gỗ hài hòa, ăn khớp với nhau. Hệ thống cột hiên được tạo tác bằng đá xanh, trạm khắc rồng mây uốn lượn mềm dẻo mà vẫn uy nghi, chắc chắn.Bên trong hai phía có đặt một đôi thần mã màu trắng và hồng, cùng giá trống, chiêng. Mỗi dịp tế thần, trống và chiêng được thỉnh làm lễ tế thánh và các anh hùng Nghĩa sĩ Lam Sơn. Đền Xương Giang còn lưu giữ những Di vật vô cùng quý giá được lấy về từ Khu di tích lịch sử đặc biệt cấp Quốc gia Lam Kinh, Kinh đô đầu tiên của nhà Lê sau khi thống nhất đất nước lập ra nhà nước Đại Việt, đó là một viên gạch từ thế kỷ XV của Kinh điện Lam Kinh hiện được đặt trong tòa đền chính. Đất long mạch tại Điện Lam Kinh được trải dưới nền đất thổ ngôi đền, Nước lấy từ giếng ngọc được đổ vào hai giếng mắt rồng đền Xương Giang và chân hương từ Lam Kinh thờ Cao tổ Hoàng Đế Lê Lợi. Như một lời chấp thuận của Đức Cao tổ Hoàng Đế Lê Lợi cho nhân dân tỉnh Bắc Giang được thờ phụng Ngài. Đỉnh đồng tại Toà Thiêu Hương đền Xương GiangTòa Thiêu HươngKiến trúc tòa Thiêu Hương được làm bằng gỗ lim. Hệ thống xà ngang, xà dọc được chạm khắc hoa văn rồng, phượng, họa tiết hoa lá theo phong cách thời Lê, thanh thoát, khỏe khắn.Nơi đây có một lư hương (đỉnh đồng) lớn có trọng lượng 1.200kg được đặt trên chiếu nặng 1.500kg mang ý nghĩa thần khí linh thông, tượng trung cho sự uy nghiêm của nơi thờ tự. Đỉnh đồng được đặt trên chiếu đá, chiếu đá nguyên khối, được chạm hoa văn tinh xảo, phía dưới có lỗ thông âm dương hòa hợp.Mặt trước của đỉnh đồng có khắc ba di sản văn hóa của miền đất Bắc Giang: Cây dã hương nghìn năm tuổi ở huyện Lạng Giang, Chùa Vĩnh Nghiêm cổ tự và Mộc bản – Di sản ký ức thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Mặt sau của đỉnh đồng khắc toàn cảnh Lễ hội Xương Giang, ngày hội toàn thắng của quân và dân Đại Việt sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc. Lễ hội Xương Giang là một trong những điểm nhấn quan trọng của Khu di tích chiến thắng Xương Giang được tổ chức vào ngày mùng 6 Tết hàng năm. Tòa Chính Cung Tòa Chính cung có 3 gian thờ chính là nơi đặt tượng thờ Thái tổ Cao hoàng đế Lê Lợi, cùng bài vị của Quân sư Nguyễn Trãi cùng 16 tướng lĩnh trực tiếp tham gia đánh trận Chi Lăng - Xương Giang. Tả, hữu là ban thờ Tiền quân, Hậu quân của nghĩa quân Lam Sơn đã anh dũng hy sinh để làm nên chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang. Chiến thắng lịch sử đó đã xóa bỏ 20 năm đô hộ tàn bạo của nhà Minh, mở ra những trang mới trong lịch sử dựng nước và giữ nước quang vinh của dân tộc.Ban thờ Hoàng đế Lê Lợi ở gian giữa, phía sau là tượng Hoàng đế Lê Lợi được đúc bằng đồng ở tư thế ngồi có trọng lượng 1.300kg. Tượng Hoàng đế Lê Lợi được đúc theo cơ sở mẫu tượng thờ vua Lê ở nhà Thái Miếu nhà Lê tại TP Thanh Hóa, có sự tham gia tư vấn của Giáo sư-Tiến sĩ Trần Lâm Biền về họa tiết trang phục, hình ảnh Hoàng đế Lê Lợi. Dáng tượng uy nghiêm lẫm liệt của một vị tướng mà vẫn nhân từ đức đạo của một đấng quân vương. Tiếp theo là hai gian ban thờ chia hai bên tả, hữu gian giữa. Ban thờ thờ Quân sư Nguyễn Trãi cùng 16 vị tướng lĩnh. Kế đó là ban thờ tiền quân và hậu quân Nghĩa quân Lam Sơn trong trận quyết chiến năm 1427. Ban thờ này tưởng niệm tri ân các nghĩa sĩ Lam Sơn đã anh dũng hy sinh vì đất nước.Điều đặc biệt là ở ngôi Đền Xương Giang còn thờ vị tướng quân Phạm Văn Liêu hay còn gọi là Phạm Đình Liêu. Ông là người Thanh Hóa, theo Vua Lê Lợi khởi nghĩa từ những ngày đầu (1418), chịu nhiều gian lao, nếm mật nằm gai ở chốn Lam Sơn. Sau ngày đại thắng, Phạm Văn Liêu được phong tặng Bình Ngô khai quốc công thần Khang Thái úy và được ở lại xứ Kinh Bắc. Đông đảo du khách tham quan, trải nghiệm tại Lễ hội Xương GiangHằng năm, tại Khu di tích lịch sử Lễ hội Xương Giang được tổ chức vào ngày mùng 6 và ngày mùng 7 tháng Giêng với nghi lễ và phần hội rất đặc sắc. Lễ hội thể hiện để sự tôn kính, ghi nhớ công ơn đối với các bậc hiền tài, nghĩa sỹ, người dân đã chiến đấu anh dũng, hi sinh trên mảnh đất anh hùng; đồng thời thể hiện truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm hào hùng của cha ông năm xưa, bản sắc văn hóa truyền thống đặc sắc quê hương Bắc Giang mỗi dip Tết đến xuân về. Khu di tích lịch sử Chiến thắng Xương Giang giờ đây không những là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, nơi diễn ra nhiều sự kiện văn hóa lớn của tỉnh và nước nhà mà còn là điểm đến thu hút đông đảo Nhân dân và du khách thập phương tới chiêm bái, thưởng ngoạn; trở thành điểm đến không thể bỏ qua mỗi khi có dịp đến với thành phố Bắc Giang./.Hà Bộ
Vĩnh Nghiêm chùa ở Đức La Chùa thờ Tam tổ phái là Trúc Lâm Bên kia Yên Tử, Quỳnh Lâm Đây đền Kiếp Bạc, kia chùa Côn Sơn” Chùa Vĩnh nghiêm (Chùa La) tọa lạc ở nơi hợp lưu ngã 3 Phượng nhãn, Phía sau là dải núi Cô tiên thuộc xã Trí Yên, Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Với địa hình sô sơn đạp thủy, chùa Vĩnh Nghiêm đã trở thành điểm đến tâm linh, điểm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng thu hút đông đảo khách thập phương về dự để hòa mình vào không khí lễ hội tâm linh đặc sắc của chốn tổ đình Vĩnh Nghiêm: Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm được tổ chức trong ba ngày từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 02 Âm lịch hàng năm cho hợp với thời tiết mùa xuân, hợp mùa lễ hội.
Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành”. Tháng Hai âm lịch hằng năm, chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) lại rộn ràng bước vào mùa lễ hội. Năm nay, hội xuân mang nhiều nét mới; không gian chùa ngày càng mở rộng, nhiều hạng mục được xây dựng, tôn tạo góp phần kết nối, nâng tầm di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nhận diện không gian, dấu tíchNúi Phượng Hoàng có địa thế đẹp, mặt bằng tự nhiên được nâng dần lên theo 3 cấp độ, cao hơn mực nước biển trung bình từ 30 – 60m. Từ trên đỉnh núi, có thể bao quát cả một không gian rộng lớn với những đồng ruộng, xóm làng trù phú. Qua quá trình khảo khảo sát khu vực núi Phượng Hoàng các nhà khảo cổ đã xác định nơi đây có 03 cấp nền kiến trúc xuất lộ, được bố trí từ lưng chừng lên đến đỉnh núi, phạm vi diện tích các cấp nền kiến trúc khác nhau và đã phát hiện nhiều mảnh gạch, ngói, trong đó có các cấu kiện trang trí đặc trưng kiến trúc xây dựng Tháp Phật giáo thời Trần như: Bệ tháp, tượng chim thần Garuda… Do có phạm vi rộng lớn nhất và các cấp nền kiến trúc xuất lộ rõ ràng nhất, các nhà khảo cổ đã lập kế hoạch mở các hố khai quật tại nền kiến trúc dưới cùng. Hiện trạng khu vực này khá bằng phẳng, được người dân sử dụng để canh tác, trồng cây ăn quả; một phần phạm vi di tích đã được nhân dân địa phương dựng tạm vài hạng mục đơn sơ, phục vụ nhu cầu tín ngưỡng tại địa phương. Ở khoảng giữa của nền kiến trúc này, có một hố rộng khoảng 30m2, sâu trung bình 1m, được nhân dân địa phương gọi là ao chùa. Đây là những nhận diện, đánh giá ban đầu nhằm chuẩn bị cho hành trình “đánh thức” một vùng di tích bị lãng quên từ hàng trăm năm nay.Xuất lộ những tầng văn hóa Trong hành trình tìm kiếm, khai mở những dấu tích văn hóa tại đây, các nhà khảo cổ đã mở 02 hố khai quật với tổng diện tích 500m2. Do quá trình nhiều năm san bạt, trồng trọt của người dân, nên các dấu tích văn hóa đã xuất lộ trên bề mặt ngay sau khi bóc lớp đất canh tác bên trên. Khi các tầng văn hóa xuất lộ, đã xác định có 4 dấu tích thời Trần (thế kỷ XIII – XIV), gồm: Kiến trúc Tháp, nền sân gạch, bó nền kiến trúc, bậc lên xuống và 5 dấu tích thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII), gồm: Bồn hoa, rãnh nước, móng tường, cụm gốm. Trong đó, đáng chú ý nhất là đã phát hiện dấu tích kiến trúc Tháp và một số kiến trúc phụ, tạo nên một tổng thể kiến trúc thời Trần tại địa điểm này. Các nhà khảo cổ nhận định, dấu tích ngôi Tháp này là kiến trúc chính, tọa lạc trên mặt bằng cao nhất trong tổng thể khu di tích. Ngôi tháp này được xác định nằm theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đã bị phá hủy hoàn toàn phần tháp; hai cạnh phía Bắc và Nam của di tích, được kè bó bằng các hàng gạch xếp chồng lên nhau; hai cạnh phía Đông và Tây, được kè bằng các tảng đá sa thạch và đá phiến. Qua xác định phạm vi các hàng bó nền, cho thấy kiến trúc ngôi Tháp này có diện tích 72m2. Căn cứ vào diễn biến địa tầng, các nhà khảo cổ nhận định, sau khi ngôi Tháp thời Trần bị phá hủy, người xưa đã tận dụng nền móng của ngôi Tháp để xây dựng nên một ngôi chùa. Nhận định đó được minh chứng bằng việc phát hiện nhiều mảnh ngói mũi sen, mảng trang trí kiến trúc thời Lê Trung Hưng, xen lẫn là các mảnh gạch xây Tháp thời Trần. Cùng đó, tại khu vực di tích, người dân đã thu nhặt được khá nhiều phần còn lại của phế tích như: Bệ Tháp, gạch Tháp, tượng Garuda…Đánh giá tổng thể qua các thời kỳ lịch sử, khu di tích này đã bị tàn phá rất nhiều, địa tầng và tầng văn hóa bị xáo trộn mạnh; các dấu tích kiến trúc trước đây chỉ còn lại phần móng và bờ kè của các cấp nền. Cùng đó, các di vật thu thập được tại cuộc khai quật này gồm tổng số 1.283 di vật, rất đa dạng về loại hình và có nhiều niên đại khác nhau. Ngoài các di vật là vật liệu xây dựng kiến trúc như gạch, ngói; hay đồ trang trí kiến trúc như đao ngói, diềm mái, lá đề, tượng …; còn phát hiện các loại đồ gốm sinh hoạt, gồm các thể loại: gốm sành, gốm men, gốm đất nung và công cụ lao động … Mỗi di vật được tìm thấy trong cuộc khai quật này, đều có đặc điểm khác nhau, là minh chứng phản ánh một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và liên tục tại khu di tích này.Bậc lên xuống các cấp nềnThông qua các loại hình di tích và di vật phát hiện tại đây, cho thấy khu di tích này có niên đại từ khá sớm và trải qua quá trình phát triển liên tục trong khoảng 400 năm. Trong đó, vào thời Trần (thế kỷ XIII –XIV), đã có một công trình kiến trúc Tháp; đến thời Lê Sơ (thế kỷ XV - XVI), không phát hiện được kiến trúc, mà chỉ có các di vật là đồ dùng sinh hoạt, có thể thời kỳ này nhân dân vẫn tiến hành các hoạt động tín ngưỡng tại đây; đến thế kỷ XVII - XVIII dưới thời Lê Trung Hưng, với sự thịnh hành của Phật giáo, di tích này được tu bổ lại và xây dựng bề thế và quy mô hơn. Trong quá khứ, dấu ấn Chùa - Tháp thời Trần liên quan tới Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử đã được phát hiện ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang như tại các huyện: Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế... Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Việt Yên, dấu tích văn hóa về giai đoạn này đến nay chưa có tư liệu khoa học cụ thể. Việc phát hiện những dấu tích văn hóa trên núi Phượng Hoàng, có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích có liên quan đến Phật giáo Trúc Lâm ở phía Tây Yên Tử, phục vụ nhu cầu văn hóa tâm linh, gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Trước mắt, thông qua cuộc khai quật khảo cổ này, là cơ sở để khẳng định những giá trị chân xác, nhằm củng cố, hoàn thiện Hồ sơ Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử -Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc, trình UNESCO công nhận là Di sản thế giới.Phí Trường Giang
Soi Đền được xây dựng thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII), tọa lạc tại xóm Đá, làng Vân Xuyên, xã Hoàng Vân, huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang) thuộc ngoại đê Sông Cầu. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, nơi đây là địa điểm ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc.
Di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu II (gọi tắt là ATK II) huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang) gồm nhiều địa danh lịch sử. Để phát huy giá trị của di tích, UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương tiến hành tôn tạo, nâng cấp nhiều công trình.
Lăng đá họ Ngọ còn gọi là Linh Quang Từ được xây dựng vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) tại làng Thái Thọ, xã Thái Sơn (Hiệp Hòa, Bắc Giang). Đây là nơi lưu giữ thi hài Phương quận công Ngọ Công Quế, một võ quan nổi tiếng dưới triều vua Lê Hy Tông (1679 - 1705). Công trình được chạm khắc công phu, mang đậm dấu ấn điêu khắc thời Lê - Mạc, được bảo tồn gần như nguyên vẹn kể từ khi xây dựng.
Cửa võng ở đình Thổ Hà thuộc làng Thổ Hà, xã Vân Hà (huyện Việt Yên, Bắc Giang) được chạm khắc công phu, tinh xảo trên từng thớ gỗ, có giá trị về nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm. Cửa võng này vừa được công nhận bảo vật quốc gia.