Chủ đề

Làng nghề và Đặc sản

Các bài viết mới nhất về Làng nghề và Đặc sản.

62 bài viết

MỚI NHẤT

Nham trám - đặc sản của một vùng quê cách mạng

Nham trám - đặc sản của một vùng quê cách mạng

Trám đen là cây thân mộc, thuộc loại cây lưu niên có thể sống trên một trăm năm, ra hoa vào tháng hai, chín quả vào tháng bẩy, quả trám hình thoi, khi chín có màu đen, cùi trám màu vàng, hạt trám nhọn hai đầu, nhân trám trắng ngần. Đến Hoàng Vân vào mùa thu, khi những hàng cây trám cổ thụ chi chít bước vào mùa thu hoạch thơm bùi là hương bị hấp dẫn khó quên là điều mà nhiều người đều cảm nhận khi được thưởng thức món trám đen.Với người dân ở làng Vân Xuyên thì quả trám đen có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau như: Nham trám, xôi nhân trám, trám kho thịt…nhưng độc đáo và hấp dẫn hơn cả đó chính là món Nham trám.Nguyên liệu để chế biến nham được làm từ các loại thực phẩm, gia vị dân giã nhưng chế biến kỳ công. Khi chế biến nham, người ta sẽ tách hạt trám, lấy cùi rồi thái nhỏ. Công đoạn tách trám cũng cần phải đúng yêu cầu kĩ thuật. Trám trước khi tách phải được ngâm trong nước ấm (khoảng 40-50 độ) 10-15 phút, sau đó vớt ra, để ráo, bổ dọc quả, tách riêng phần cùi và phần hạt sao cho phần cùi không bị rắn hay nát.

Phát triển sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến trong hoạt động du lịch

Phát triển sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến trong hoạt động du lịch

Sản phẩm tăm tre sau khi được nhuộm màu Bên cạnh giá trị về mặt kinh tế, xã hội mà nghề mây tre đan mang lại thì hiện nay làng nghề đang dần trở thành địa chỉ có tiềm năng khai thác du lịch và phát triển các tour, tuyến du lịch làng nghề, du lịch cộng đồng. Chính sự độc đáo từ khâu nguyên liệu đến quy trình sản xuất thủ công để tạo ra những sản phẩm đặc sắc của làng nghề đã rất hấp dẫn, thu hút sự quan tâm hiếu kỳ của du khách, đặc biệt là đối tượng khách nước ngoài. Có thể khẳng định đây là một trong những tiềm năng lớn có thể đưa vào khai thác nhằm kích cầu du lịch tại đây.Mành Tăm được dệt trên KhungNguồn nguyên liệu chủ yếu để làm ra sản phẩm thủ công truyền thống của xã Tăng Tiến là cây dùng, cây tre và mây. Đây là những nguyên liệu truyền thống của làng nghề mây tre đan xã Tăng Tiến. Có thể thấy rằng những nguyên liệu này rất dễ kiếm và rất quen thuộc với người Việt Nam. Tại tất cả các làng quê xưa kia đều có cây tre, cây Dùng phấn, thậm chí cây tre đã trở thành một hình ảnh ví von đi vào tâm thức của người dân mỗi khi nhắc đến làng quê Việt. Trong số đó cây Dùng phấn trở thành nguồn nguyên liệu chủ yếu nhất hiện nay. Đây là loại cây có gióng rất thẳng, dài, lạt mịn đẹp, dẻo dai, có thể dùng để uốn thành những sản phẩm rất kỹ, nhỏ mà không sợ bị gẫy, phá nan như cây tre. Yêu cầu khi chọn Dùng phấn là cây thẳng, gióng dài. Dùng khi chẻ phải thật mỏng, mịn, nuột, dài mà người dân địa phương vẫn gọi là tôm nhỏ, thịt lỳ. Đặc điểm ưu việt của nghề mây tre đan là tiêu thụ ít nguyên liệu và thải ra rất ít phế liệu. Do vậy, nguồn nguyên liệu cung cấp cho làng nghề hiện nay dồi dào và ổn định.Sản phầm đồ dùng gia đình Bên cạnh tính cổ truyền, dung dị mộc mạc của nguyên liệu sản xuất sản phẩm thì quy trình sản xuất thủ công của làng nghề cũng là điểm hấp dẫn du khách thăm quan. Để tạo ra hầu hết các sản phẩm mây tre phải trải qua nhiều công đoạn: Chọn mua nguyên vật liệu; Pha tre, chẻ nan; Hun; Đan, dệt sản phẩm; Xử lý mẫu mã, sản phẩm. Tuy nhiên tùy vào mỗi loại sản phẩm có đặc tính riêng thì các công đoạn trên sẽ có những quy trình nhỏ khác nhau.Hình ảnh xưởng sản xuất thủ công sản phẩm mây tre đan làng nghề Du khách đến thăm làng nghề có thể được mục sở thị thấy các nghệ nhân với đôi bàn tay tinh hoa của mình thực hiện điêu luyện thành thục các thao tác để tạo ra các sản phẩm. Đặc biệt, du khách có thể tự mình trực tiếp trải nghiệm tham gia vào một số khâu sản xuất sản phẩm và tự mình có thể đóng góp vào việc tạo ra một vật phẩm làm kỷ niệm vô cùng ý nghĩa khi đến thăm quan làng nghề. Đây là một nét rất hấp dẫn và thu hút sự thích thú của đông đảo du khách mỗi khi đến đây. Ngoài việc tham quan quy trình sản xuất sản phẩm du khách còn được chiêm ngưỡng và tìm hiểu về nhiều sản phẩm tinh hoa của làng nghề mà được các nghệ nhân chế tác. Đó thực sự là các sản phẩm không chỉ có tính nghệ thuật thẩm mỹ cao mà còn mang nhiều giá trị văn hóa xã hội lớn khác được tiềm ẩn trong những sản phẩm truyền thống bình dị mà đặc sắc. Các sản phẩm mây tre đan ở đây cũng sẽ là những món quà lưu niệm đầy ý nghĩa mà các du khách chọn mua để tặng người thân và bạn bè khi có dịp về thăm làng nghề mây tre đan Tăng Tiến. Tiềm năng phát triển du lịch ở đây rất lớn xuất phát từ chính nội tại của việc sản xuất trong làng nghề, đến đây du khách không chỉ du lịch thăm quan làng nghề mà còn có thể kết hợp du lịch tâm linh, thăm quan tìm hiểu thắng tích chùa Bổ Đà cách đó khoảng 10km, làng cổ Thổ Hà… hay chùa Sùng Quang gần đó.Sản phẩm mành tăm trang trí Như vậy có thể khẳng định việc duy trì và phát triển làng nghề truyền thống ở Tăng Tiến là một việc làm có ý nghĩa trong đời sống kinh tế và văn hóa nói chung và ngành du lịch nói riêng. Để gắn sự phát triển của làng nghề tạo động lực kích cầu du lịch hơn nữa trong thời gian tới cần tập chung phát triển hơn nữa nguồn vốn đầu tư cũng như nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu sản xuất của làng nghề thông qua chương trình đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn; Cần đa dạng hóa các sản phẩm đặc biệt các sản phẩm, tập chung sản xuất những những mặt hàng thị hiếu phù hợp với nhu cầu của thị trường, hướng tới thị trường mục tiêu nhằm tăng sức cạnh tranh thu lợi nhuận; Hình thành xây dựng các tour du lịch phục vụ du khách thăm quan làng nghề mang tính chuyên nghiệp; Đặc biệt chú ý tập chung vào việc tăng cường quảng bá tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, tại các hội chợ thương mại du lịch, các triển lãm….để cho du khách trong và ngoài nước biết đến tên tuổi của một làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng tại Bắc Giang./. Hà Bộ

12 ĐẶC SẢN DANH TIẾNG CỦA ĐẤT BẮC GIANG

12 ĐẶC SẢN DANH TIẾNG CỦA ĐẤT BẮC GIANG

Nếu có dịp đến với đất Kinh Bắc, bên cạnh việc thăm thú những di tích lịch sử, văn hóa lừng danh như di tích Yên Thế, chùa Vĩnh Nghiêm…hay các danh lam thắng cảnh tuyệt đẹp, thì du khách cũng không nên bỏ qua những đặc sản của vùng đất có văn hóa lâu đời.

Trứng kiến - Thời trân miền Tây Yên Tử

Trứng kiến - Thời trân miền Tây Yên Tử

Xôi trứng kiếnNgười đi đánh kiến chọn mùa vào cuối xuân, đầu hạ, lúc tiết trời nắng đẹp, khô ráo… Thời điểm này trứng kiến vừa nở căng mẩy. Ở vùng rừng núi Mai Sưu, Đan Hội (Lục Nam), Kiên Lao, Kiên Thành, Nam Dương, Mỹ An (Lục Ngạn)… xưa có nhiều người rất thạo nghề đánh trứng kiến. Đồ nghề gồm: Câu liêm, dao quắm, rá, khăn mặt… Khi phát hiện tổ kiến, tổ nào mẩy thì lấy câu liêm kéo vít, đốn cành kéo tổ về một chỗ thoáng rộng rồi dùng dao sắc vạc dần từng miếng tổ, lấy sống dao gõ, từ nhẹ đến mạnh dần vào cành cây để trứng rơi vào rá. Tổ nào nhìn có màu đen bạc, thớ tổ gờ to, cành cây hơi trĩu, khi chặt cành nâng lên thấy nặng tay là tổ kiến mẩy. Tổ nào trông đen xì, xốp… thì ít trứng. Nhìn màu tổ và vỏ tổ kiến để quyết định có nên chặt đốn hay để gây dành đến mùa sau. Khi đã được lưng rá trứng kiến đem về nhà, người ta sàng sảy nhẹ nhàng cho hết lá cây và tạp chất từ tổ kiến. Cẩn thận hơn có thể bỏ trứng kiến vào chậu nước sạch ấm, đãi thêm lần nữa để kiến già và tạp chất nổi lên, hớt đi là có mẻ trứng kiến an toàn vệ sinh tuyệt đối. Từng hạt trứng căng mọng sẽ được đồng bào nơi đây chế biến thành nhiều món ăn độc đáo. Trứng kiến là thức ăn ngon, bổ dưỡng. Du khách đến các vùng này thường được thưởng thức: Trứng kiến hấp hai lửa (làm thức ăn với cơm hoặc xôi), bánh kiến, xôi trứng kiến. Nhiều người dân ở vùng Kiên Lao, Kiên Thành (Lục Ngạn) còn có món trứng kiến sống ăn cùng bánh đa, nhắm rượu cũng rất thú vị. Gần đây người ta dùng trứng kiến để ngâm rượu nghe nói có tác dụng bổ thận tráng dương. Bà Nguyễn Thị Hợp, thôn Biềng, xã An Lạc (Sơn Động) rũ trứng kiến vào giá. Ảnh: Nguyễn HưởngCác món ăn chế biến từ trứng kiến không cầu kỳ. Món trứng kiến hai lửa là trứng kiến đã làm sạch, bỏ vào nồi, ướp ít bột canh (có thể thêm chút nước, mì chính), mắm ngon đảo đều, để chừng mươi phút cho ngấm gia vị. Hành khô băm nhỏ, phi thơm. Gia vị đã ngấm, đặt nồi trứng kiến lên bếp chưng, rải hành phi lên trên đậy vung kín. Chờ sôi mươi phút cho chín tới, đảo đều bắc ra. Để trứng qua đêm, sáng hôm sau đặt lại trên bếp cho sôi vài phút, để nguội hẳn mới được ăn. Trứng kiến khi chưng nóng ra nước xẹp lép, để sáng sau hút nước căng mọng, béo ngậy. Có thể ăn với cơm hay xôi trắng đều rất đặc biệt. Trong nhiều món ăn được chế biến từ trứng kiến thì xôi trứng kiến là phổ biến nhất. Thực hiện như đồ xôi gà cách thủy, đặt xôi dưới, trứng kiến và gia vị bên trên. Xôi chín tới, xới tơi trộn đều với trứng kiến rồi cho ra đĩa, thưởng thức nóng sẽ cảm nhận được vị thơm đậm đà, quyến rũ của lúa nếp nương, vị ngọt, bùi và ngậy của trứng kiến. Khi ăn nghe tiếng trứng kiến nổ lép bép trong miệng mới thấy hết cái thú vị của món ăn này. Bất kỳ ai dù một lần được thưởng thức xôi trứng kiến sẽ nhớ mãi. Ngoài ra còn có bánh trứng kiến: Trứng kiến đảo đều chín tới bắc ra để nguội. Bột gạo nếp, tẻ mịn tỷ lệ 1/3. Đem bột, trứng kiến trộn đều với nước dừa, gia vị cho sền sệt rồi hấp chín (có người trộn thêm bột lòng đỏ trứng gà mới hấp rồi đem rán cho thơm). Bánh trứng kiến thường to bằng chiếc đĩa, khi ăn xắt thành miếng nhỏ vuông vuông, ăn cùng rau thơm sẽ thú vị hơn. Trong một số bản thần tích ở đình, chùa một số làng xã thuộc các huyện vùng cao này đều thấy ghi rằng, vào các dịp lễ tế thành hoàng phải có món xôi hoặc bánh trứng kiến. Thế mới biết, từ xưa trứng kiến đã là món ngon quý, đâu phải món ăn dân dã quê mùa.Văn Phong

Mát lành bánh gio Hiệp Hòa

Mát lành bánh gio Hiệp Hòa

Quê tôi – Lý Viên, nằm trong vùng đất cổ, vùng văn hóa Đông Lâm, nơi trong lòng đất còn lưu giữ một bảo vật quốc gia: Trống đồng Bắc Lý, làng quê ấy ven dòng sông Cầu thơ mộng, dòng sông cần cù bồi đắp phù sa cho những cánh đồng trù phú, dòng sông dân ca, dòng sông huyền thoại, dòng sông là chiến tuyến hào hùng chống quân xâm lược, nơi phát tích bài thơ thần, bản tuyên ngôn độc lập: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…” của Lý Thường Kiệt mãi mãi lưu truyền. Vùng đất ấy, vùng đất của hội hè, đình đám cứ mỗi độ xuân về. Đến quê tôi là đến với vùng quê cách mạng, nơi có khế ngọt, trám bùi, người quê tôi thuần phác, cần cù, ham học, son sắt, thủy chung. Mời bạn về Hiệp Hòa thăm di chỉ khảo cổ Đông Lâm, thăm địa danh trống đồng Bắc Lý, xem hội đua thuyền trên dòng sông Như Nguyệt, chứng kiến hội Tung hoa, thăm đình Đông Lỗ rêu phong cổ kính, chiêm ngưỡng bức tranh sơn mài và bức trạm người chơi đàn đáy; thăm đền Y Sơn, lăng Dinh Hương, lăng Bầu, Lăng Họ Ngọ; ngược Hoàng Vân về với quê hương cách mạng, thưởng thức nham trám Hoàng Vân, ăn miếng trầu Gia Cát, về Đông Lâm, Nga Trại, Mai đình hãy dừng lại nơi đây, bà con làng xóm sẽ đãi bạn bát cơm thơm rẻo Đồng Chóa ăn với cá Đồng Ưa, canh cua Đồng Chùn, cải ngồng luộc Tiếu Mai và dưa hành Nga Trại… Mời bạn về Lý Viên làng tôi nhâm nhi chén rượu với gỏi cá mè, ăn bát cháo quê đặc sản cá ở vùng nước Đồng Ưa, thưởng thức miếng bánh gio truyền thống mát lành. Xưa kia trong mâm cỗ tết dù thịt nhiều hay ít thì tùy, nhưng mâm cỗ ấy không bao giờ được thiếu món bánh gio. Các cụ truyền lại, bánh gio là loại thuốc quý bởi được dùng tất cả các loại cây thuốc làm thang. Câu ca “Rền gai, vỏ quýt, vỏ bòng – dành dành núc nác đốt làm bánh gio”. Câu ca là thế nhưng để lấy gio làm bánh còn nhiều vị khác như vỏ đỗ, cây gai, quả xoan, vỏ lá xung,… Giờ đây bánh gio quê tôi không chỉ ngày tết mới đặt trong mâm cỗ mà đám cưới, ngày giỗ, các cuộc mừng thọ, liên hoan… đều có bánh gio. Bánh gio đã trở thành hàng hóa ở chợ quê, xuất đi thành phố và là món quà đặc sản cho khách vãng lai. Không hiểu trong cơ chế thị trường nơi khác gói bánh gio có thêm hóa chất gì để cho bánh nhuyễn và đẹp không? Nhưng ở quê tôi thì vẫn hoàn toàn là bánh gio truyền thống. Các loại vỏ, cây, quả, lá để làm bánh, tất cả đều có ở vườn nhà và quanh vùng, đồi bãi, ruộng đồng. Các loại thuốc nam ấy đốt thành gio để kỹ vào bao dùng quanh năm. Mỗi khi gói bánh mới lấy gio pha trộn vào nước giếng để trong vại sành, đổ nước vôi trong vào vại cho cặn gio lắng xuống đáy vại. Gạo gói bánh là loại gạo nếp cái, ngon nhất là nếp cái hoa vàng. Gạo vo sạch, đãi sạn, dùng nước gio để ngâm. Ngâm gạo là cả một quy trình và kinh nghiệm. Gạo có màu trắng đục, đổ vào ngâm phải thay nước gio ba lần trong khoảng 9-10 tiếng đồng hồ, cứ 3 giờ thay một lần nước, như thế mới đủ độ thẩm thấu nước gio vào hạt gạo, sao cho màu hạt gạo chuyển từ trắng đục sang màu vàng nhạt có ánh hơi xanh, lấy tay trà xát, hạt gạo nhuyễn thành bột mới đạt yêu cầu. Chả hiểu nước bánh gio và gạo kỵ với mỡ và muối thế nào nhưng khi ngâm gạo, tất cả các đồ dùng như giá, xoong, chậu,… đều không được dính mỡ và muối, nếu có mỡ và muối dù bánh có luộc kỹ, đun lâu hạt gạo vẫn chơ chơ không thể nhuyễn. Lá gói bánh gio thường là lá dong, lá tươi sẽ nhanh chuyển màu và có mùi nếu để lâu, nên người ta dùng lá dong phơi khô, khi gói ngâm nước cho mềm, mỗi lá gói một bánh dài khoảng 20 phân, to hơn ngón chân cái. Luộc bánh bằng củi là tốt nhất, khi luộc nồi bánh phải ngập nước, nếu nước cạn lại đổ them nước, đun sôi khoản 20 phút bắc ra khỏi bếp ngâm đến khi nước nguội thì vớt bánh. Để bánh có màu đẹp, khi luộc cho ít măng khô hay quả dành dành thì bánh sẽ trong và màu vàng óng. Bánh gio vừa mềm, vừa dẻo, gấp như gấp lạt mà không gãy, cầm một đầu lẳng đi lẳng lại cứ dẻo quẹo, nên dân gian còn gọi bánh gio là bánh “lẳng”. Ngày tết, ngày hội, đám cưới,… ăn nhiều thứ dễ sinh trướng bụng, đầy hơi, món bánh gio ăn mát, lành sẽ làm ta dễ chịu, nhuận tràng, tiêu hóa tốt. Vì thế bánh gio vừa là món ăn ngon, vừa là vị thuốc nam, món ẩm thực đặc sản của cùng quê luôn được mọi người ưa chuộng cùng với mật mía mật ong./.Ngô Văn Trụ

Về với du lịch làng nghề Bắc Giang

Về với du lịch làng nghề Bắc Giang

Thổ Hà là một trong những ngôi làng đẹp nhất, còn giữ được nhiều di tích. Ngôi nhà cổ truyền thống, với cảnh quan thơ mộng là con sông chảy dọc qua làng. Đường làng, ngõ xóm được thiết kế hình bàn cờ nối tiếp gắn mạch nhau, khá giống làng cổ Đường Lâm và Cự Đà. Tận sâu trong những con ngõ, con hẻm ấy là một mầu đỏ cũ kỹ của những bức tường gạch, gạch lát nghiêng đã mòn vẹt, trưng ra thần thái của dấu ấn thời gian và đậm chất đồng bằng Bắc Bộ. Làng cổ Thổ Hà có nghề làm bánh đa lưu truyền nhiều thế hệ, dù chịu ảnh hưởng của kinh tế thị trường, vẫn còn không ít hộ giữ nghề. Họ muốn níu giữ những ký ức tuyệt đẹp về một nghề truyền thống phát đạt suốt nhiều thập kỷ mà cha ông họ dốc lòng tạo dựng thương hiệu. Thổ Hà cũng là đất của quan họ. Những làn điệu lúng liếng, với lối sống chan hòa, gắn kết góp phần tôn bồi tính cách nhã nhặn, khiêm tốn và mực thước của người dân. Hơn nữa Thổ Hà có vị trí giáp Bắc Ninh, cửa ngõ của thủ đô Hà Nội mỗi năm thu hút hàng vạn lượt du khách trong và ngoài nước đến tham quan, tìm hiểu quy trình sản sản xuất gốm, bánh đa nem, nấu rượu. Ông Cáp Trọng Việt, Trưởng thôn Thổ Hà cho biết: “Thôn có hơn 200 hộ làm bánh đa nem. Đây là nghề gia truyền do cha ông để lại. Ngoài ra, Thổ Hà còn lưu giữ những công trình kiến trúc cổ kính, tiêu biểu của cả nước như đình Thổ Hà, chùa Đoan Minh, cảnh quan không gian đậm chất truyền thống của làng quê thuần Việt. Chị Hoàng Điệp, Phóng viên Báo Tuổi Trẻ TPHCM cho hay: Tôi đã đến hai làng nghề này nhiều lần và cảm thấy rất ấn tượng bởi hầu như gia đình nào ở đây cũng sản xuất bánh đa nem, nấu rượu, sản phẩm được phơi bày đầy rẫy khắp các ngả đường làng, cùng đó là những công trình kiến trúc cổ kính, những nếp nhà gạch chỉ không trát vữa, ngõ nhỏ sâu hút đều tăm tắp, đặc biệt hơn đây còn là vùng đất của những làn điệu dân ca quan họ mượt mà bờ bắc sông Cầu. Và như thế, với chị Điệp đến Thổ Hà không chỉ để tác nghiệp mà còn là dịp được trực tiếp xem người dân làng nghề sản xuất những sản phẩm thủ công truyền thống, tham quan, khám phá, thưởng ngoạn cảnh sắc, không gian văn hóa làng nghề.

Một nét ẩm thực Bắc Giang Bánh đa Kế - chim rang giềng

Một nét ẩm thực Bắc Giang Bánh đa Kế - chim rang giềng

Nói đến bánh đa, bánh tráng không chỉ có riêng ở vùng quê xứ Kinh Bắc ( Bắc Giang) mà còn có ở nhiều địa danh khác trên mọi miền tổ quốc. Nhưng món bánh đa Kế (Bắc Giang) lại có một hương vị riêng mà không thể lẫn vào món bánh đa của nơi nào khác. Bánh đa Kế không giống bất cứ những chiếc bánh của một nơi nào, bởi kích thước to lớn và mầu sắc đặc trưng làm lên sự khác biệt độc đáo này. Nhìn xa những chiếc bánh đa như chiếc nón thúng quai thao của người quan họ, duyên dáng, dịu dàng, đằm thắm tình quê. Ở Bắc Giang cũng có nhiều nơi làm bánh, như bánh đa dừa Thổ Hà Việt yên, bánh Đa Mai, nhưng bánh đa nguyên gốc truyền thống phải nói đến bánh đa của làng Kế-Bắc Giang. Bánh đa Kế là một món ăn bình dân giản dị, nhưng chứa đựng trong đó biết bao nhiêu mồ hôi công sức của người nông dân vùng Kinh Bắc xưa kia. Để trở thành một món ăn truyền thống đặc sản của người dân Bắc Giang như ngày nay, chiếc bánh đa cũng đã trải qua nhiều thăng trầm biến cố của lịch sử. Nhiều món ăn xưa kia cũng đã từng nổi tiếng nhưng rồi cũng mai một theo năm tháng thời gian, bởi nhiều lý do khác nhau như thiên tai địch họa, giặc ngoại xâm, dịch bệnh dẫn đến người dân phải tha phương cầu thực đi lưu tán khắp nơi, hoặc do nghề không được lưu truyền theo các hế hệ…. Nhưng với món ăn mang hương vị đậm đà chất quê của người dân Dĩnh Kế-Bắc Giang này thì vẫn luôn được gìn giữ lưu truyền và phát huy qua các thế hệ.

Cuộn xuống để xem thêm bài viết