Chủ đề

Làng nghề và Đặc sản

Các bài viết mới nhất về Làng nghề và Đặc sản.

61 bài viết
Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Xôi ngũ sắc “ gói cả trời đất trong tay”: ngũ phúc lâm môn.Trong phiên chợ vùng cao phía Bắc, tổ chức tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam xuân 2013, tại gian trưng bày của tỉnh Bắc Giang không chỉ có mật ong vải thiều; mì Chũ; bánh đa Kế; nấm lim xanh Đèo Gia; mây tre đan Tăng Tiến mà đặc sản xôi trứng kiến của đồng bào Cao Lan ở Đèo Gia đã thu hút hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước, trong đó có nhiều phóng viên của các báo, tạp chí và truyền hình tới thưởng lãm, bởi sự độc đáo, đặc sắc của món ẩm thực đặc biệt này. Sự độc đáo của sản phẩm bao gồm cả nguyên liệu chế tác, sự cẩn trọng, khéo léo của người thực hiện. Về nguyên liệu, phải tìm và lấy được lá cây thau từ tháng 7 đến tháng 10, khi lá vừa đủ độ già. Lá cây thau được giã lọc lấy nước sẽ được màu tím. Màu xanh được lấy từ lá cây gừng; màu đỏ được lấy từ lá cây cẩm hồng hoắc cẩm tía; còn màu vàng được lấy từ củ nghệ hoặc quả dành dành( cũng giống như màu vàng của tranh Đông Hồ). Đối với từng loại lá, quả, củ đều được nghiền kỹ, lọc lấy nước đặc để dùng. Riêng màu trắng là của chính thứ gạo nếp thơm của vựa nếp Phì Điền. Từng phần gạo được ngâm riêng với từng loại nước màu cho ngấm, trong khoảng 3 canh giờ ( khoảng 6-7 tiếng) thì cho vào chõ để đồ xôi, Khi xôi chín được cho vào khuôn đã có sẵn. Xúc xôi vào từng ngăn ô trong khuôn với 5 màu riêng biệt. 5 màu thường là: Đỏ, đen, trắng, vàng, xanh ( hoặc tím). Những màu tượng trưng cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Dân gian cho rằng, thưởng thức món xôi ngũ sắc là ngũ phúc lâm môn. Nếu khuôn bánh to bằng chiếc mâm thì có thể trang trí các hình và chữ nổi, bằng chữ Hán hoặc chữ Việt. Du khách một lần được thưởng lãm và thưởng thức món xôi ngũ sắc của đồng bào Cao Lan vùng Tây Yên Tử thì mãi nhớ. Bánh vắt vai, “ bánh thương, bánh nhớ”

MỚI NHẤT

MÓN NGON TỪ CUA DA

MÓN NGON TỪ CUA DA

Có một loài cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận một số xã ven sông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) như: Đồng Việt, Đồng Phúc, Thắng Cương mà dân trong vùng quen gọi là “Cua Da”. Loài cua này rất đặc biệt ở chỗ chỉ xuất hiện và khoảng đầu Đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10 âm lịch) hàng năm.Đây là một loài cua sông to gần bằng con ghẹ, về hình thức cơ bản trông giống loài cua đồng, nhưng chân dài, mình to gấp ba, bốn lần cua đồng và mang một số đặc điểm khác biệt với họ nhà cua. Đó là hai càng của giống cua này có hai lớp lông như rêu bám vào, yếm cua cũng có lớp diềm rêu điệu đà. Chính cái lớp lông rêu này đã khiến nhiều người băn khoăn về tên gọi của loài cua này là: “Cua Da, Cua Da hay là Cua Gia?”. Có người nói rằng phải gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng chín cua ra, tháng ba cua vào”. Có người lại nói phải gọi là “cua da” vì loài cua này có một lớp da trên càng. Có người lại bảo phải gọi là “cua gia”, vì đơn giản tên gọi ấy nghe có vẻ hay hơn, hợp lý hơn.Theo anh Phạm Văn Trường, 42 tuổi ở xóm Cựu Trên, xã Đồng Phúc, Yên Dũng-người có thâm niên trong nghề thu gom và bán Cua Da cho các nhà hàng đặt sẵn trong huyện, thành phố và một số tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội cho hay: “Khoảng hơn 10 năm về trước, người đi chài lưới rất ghét loại cua này vì nó rất tanh. Nhưng từ khi người dân biết ăn cua bằng cách hấp bia, có xả, gừng nhâm nhi cùng thứ rượu nếp thơm nồng nút bằng lá chuối; biết giã ra nấu riêu ăn với bún có kèm rau sống cùng một chút hoa chuối thì nó trở thành đặc sản”. Cũng theo anh Trường, thị trường cua da ngày càng sôi động, những năm trước cua da có giá từ 30.000- 40.000 đồng rồi tới 100.000 đồng, và đến nay đã là 160.000 đồng/kg. Thu nhập từ cua đã giúp một số hộ dân nơi đây giảm nghèo, có cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, do giá trị tăng cao nên nhiều người đi săn lùng cua da, do vậy lượng cua ngày càng hiếm. Đặc biệt, nó chỉ có ở một số khúc sông thuộc địa phận vài xã vùng hạ Yên Dũng, và xuất hiện trong vòng hai, ba tháng rét cuối năm nên giá trị của cua da ngày càng tăng do xuất phát từ yếu tố “hiếm” mà thành “quý” chăng?Theo kinh nghiệm của người dân làng chài nơi đây, Cua Da có thể được chế biến thành nhiều món như: cua hấp bia, cua rang muối, cua chiên, cua giã nấu canh… Nhưng ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Bỏ cua vào thùng, xả nước và xóc mạnh cho sạch. Mỗi con cua to nặng từ 100g-200g, xếp vào nồi, rắc thêm chút bột canh, bỏ thêm xả, gừng, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp. Để lửa thật nhỏ, đun li ti cho đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên là bắc ra. Lửa nhỏ để giữ cho càng và chân không bị rụng, đồng thời để gia vị ngấm, khử mùi tanh.Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khá mềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua hay ghẹ biển. Ăn cua da chấm bột canh pha mù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng. Thật cảm ơn cho người đưa món cua này vào thành món đặc sản. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây tăng thêm thu nhập, mà còn góp phần đưa vùng đất này có thêm một món đặc sản “của hiếm Cua Da”. Bài, ảnh: Ngọc Bảo Anh

GỎI CÁ MÈ – MÓN KHOẢI KHẨU VÙNG QUÊ

GỎI CÁ MÈ – MÓN KHOẢI KHẨU VÙNG QUÊ

Không biết món gỏi cá Mè ở vùng quê tôi có từ bao giờ? Chỉ biết ở cái làng Lý Viên - Hiệp Hòa, một vùng quê thuần nông ven sông Cầu, hồ, ao nhiều tôm, cá lắm. Bọn chúng tôi từ bé đã biết mò cua, bắt cá, đứa nào cũng bơi giỏi, ngụp lặn dưới ao hồ, nước trong, sóng gợn. Tôm, cá nhiều đủ loại, những con cá Mè to nấu cháo béo ngậy. Những con chép vàng ươm, rán lên thịt cá rắn đanh, thơm nức, nào trê om, cá riếc kho với tương gạo nếp, măng tre, riềng... ăn cứ muốn ngậm. Rồi gỏi cá Mè… những món ăn dân dã ấy ở vùng quê sông, nước thực như cơm ăn, nước uống hàng ngày.

3 món gỏi cá tuyệt hảo lập kỷ lục Việt Nam

3 món gỏi cá tuyệt hảo lập kỷ lục Việt Nam

Mới đây, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (Vietkings) vừa công bố danh sách Top 5 đặc sản gỏi nổi tiếng Việt Nam trong đó có 3 món gỏi cá bao gồm: gỏi cá nhệch Tràng Cát (Hải Phòng); gỏi cá mè (Bắc Giang); gỏi cá trích Phú Quốc (Kiên Giang).

BÁNH TRO- MÓN NGON DÂN DÃ

BÁNH TRO- MÓN NGON DÂN DÃ

Bánh tro (hay còn gọi là bánh gio)- ngay cái tên gọi đã khiến ngườinghe liên tưởng đến một món ăn đậm chất quê. Thực vậy, cũng như nhữngmón bánh khác, bánh tro là một món ăn dân dã, mộc mạc, dễ làm và rấtngon. Đây là một thức quà từ lâu đã trở thành đặc sản ẩm thực ở làng ĐaMai, xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang (Bắc Giang)…

Thưởng thức món chè đỗ đãi Mỹ Độ ngày xuân

Thưởng thức món chè đỗ đãi Mỹ Độ ngày xuân

Bắc Giang không chỉ hấp dẫn du khách về những điểm du lịch độc đáo, màcòn hấp dẫn bởi nơi đây có những món đặc sản vùng nổi tiếng như: mỳChũ, bánh đa Kế, bún Đa Mai, Rượu làng Vân…Và đặc biệt là món chè đỗđãi ngọt ngào được làm bởi những đôi tay khéo léo, giàu kinh nghiệm củangười dân Mỹ Độ- một ngôi làng nhỏ nằm ven bờ sông Thương thơ mộng,hiền hòa.

Nghề làm bún Đa Mai

Nghề làm bún Đa Mai

Người Bắc Giang từ lâu lưu truyền câu vè “Bún Đa Mai, vai làng Đò, giò làng Thương, tương làng Bún…”. Đến xã Đa Mai ngày nay, bạn không thể bỏ qua loại bún có sợi trắng muốt, dẻo thơm mát lành, để cả ngày không chua này.

Khau Nhục - Món đặc sản của dân tộc Hoa Kiều ở Bắc Giang

Khau Nhục - Món đặc sản của dân tộc Hoa Kiều ở Bắc Giang

Khau nhục là món ăn phổ biến của dân tộc Hoa, món ăn có xuất xứ từ Trung Hoa, được chế biến từ thịt lợn. Để chế biến món khau nhục phải qua nhiều công đoạn cầu kỳ. Nguyên liệu để làm món khau nhục gồm có: thịt lợn ba chỉ, húng lìu, ngũ vị hương, địa liền, tỏi, ớt, rượu, dấm, bột ngọt, hạt tiêu…Khi chế biến món này, phải dùng thịt lợn ba chỉ tươi ngon, cắt thành miếng vuông, khổ 16x16cm (dành cho 6 người ăn), rửa sạch cho vào nồi luộc kỹ. Thịt chín vớt ra để nguội. Cạo sạch phần bì của miếng thịt, dùng vật nhọn châm vào bì thật kỹ, khi thấy bì chảy mỡ ra thì lau sạch, lấy rượu hoặc dấm bôi vào lớp da bì đó cho thấm đều. Tiếp theo cho thịt vào chảo mỡ nóng chao (rán) sao cho vàng đều mới vớt ra. Miếng thịt vừa vớt ra khỏi chảo được ngâm ngay vào nước lạnh, cho vào nồi luộc cho thịt săn lại, vớt ra để nguội. Mỗi miếng cắt khoảng 2cm rồi tẩm các loại gia vị cho thật đều. Sau đó xếp các miếng thịt vào bát tô đặt phần bì xuống dưới đáy bát, phần thịt quay lên phía trên để tiện cho việc rắc gia vị được ngấm đều rồi đưa vào nồi hấp cách thuỷ một lần nữa đến khi thịt mềm nhũn thì bỏ ra ăn. Bên dưới bát khau nhục bày các loại gia vị như: rau xanh, mộc nhĩ, ớt.Khi chín khau nhục có màu vàng đều, hấp dẫn, mùi thơm đặc trưng lôi cuốn người ăn và ăn khi còn nóng. Ai đã từng một lần thưởng thức món khau nhục thì không thể quên hương vị độc đáo của nó, mùi thơm của gia vị, béo ngậy của thịt sẽ đánh thức giác quan của bạn. Theo:http://www.dulichvn.org.vn

Lễ hội làng Chẽ và hội thi bơi chải

Lễ hội làng Chẽ và hội thi bơi chải

Sắp đến ngày 10 tháng 4 ( Âm lịch) nếu có dịp lên vùng An Châu - Sơn Động, bạn hãy dành thời gian đến thăm Hội Đình làng Chẽ và hội thi bơi chải trên dòng sông An Châu. Đình làng Chẽ trước đây thuộc xã An Lập, đến năm 1990 khi thành lập thị trấn An Châu, làng Chẽ (hiện nay gọi là khu Đình) thuộc về thị trấn An Châu. So với các huyện, thành phố khác trong tỉnh, Sơn Động có ít di tích lịch sử văn hoá hơn nhưng hội Đình làng Chẽ, Hội thi bơi chải cùng với các hội thi hát khác của đồng bào dân tộc thiểu số được tổ chức hàng năm, đã tạo nên một bản sắc riêng cho huyện vùng cao trong những năm gần đây.

Làng cổ Thổ Hà

Làng cổ Thổ Hà

Đình Thổ Hà - một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo

Làng cổ Thổ Hà- Dấu ấn văn hóa nghìn năm Bắc Bộ

Làng cổ Thổ Hà- Dấu ấn văn hóa nghìn năm Bắc Bộ

Làng cổ Thổ Hà - Dấu ấn văn hóa nghìn năm Bắc Bộ.(Cinet)- Trải dài dòng sông Cầu thơ mộng, Thổ Hà (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) là một trong những ngôi làng hiếm hoi còn giữ được vẻ đẹp văn hóa cổ của vùng Kinh Bắc, nơi mà đâu đó vẫn còn phảng phất phong vị hữu tình của nét xưa cây đa, bến nước, sân đình và những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong ngõ hẻm…Thổ Hà từng được coi một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt. Gốm Thổ Hà mang những nét đặc sắc riêng hiếm có: độ sành cao, không thấm nước, tiếng kêu như chuông, màu men nâu đỏ mịn màng, ấm áp và gần gũi. Gốm có độ bền vĩnh cửu dù được chôn trong đất, ngâm trong nước. Làng chỉ làm đồ gốm gia dụng, những chum vại, tiểu sành, chĩnh chõ nổi tiếng một thời.Ngày nay, dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời vẫn còn hiển hiện trong những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm, không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Vẫn là con đường xưa, còn đó những nếp nhà rêu phong, mái đình cong trầm mặc vắt ngang qua chiều dài lịch sử văn hóa Việt; ngôi chùa cổ kính hàng trăm năm tuổi là một trong những di tích cấp quốc gia được công nhận sớm nhất, năm 1960. Đến đây du khách chắc hẳn sẽ phải ngạc nhiên về những sáng tạo của người xưa khi đưa những chất liệu sành vào trong kiến trúc làng.Theo nhịp sống hiện đại, tường gạch vôi được xây lên thay thế cho những bức tường cũ, chuyện xây nhà bằng tiểu sành chỉ còn trong ký ức, như minh chứng cho thời quá vãng vàng son của nghề gốm Thổ Hà.Tuy nhiên, hiện nay làng chuyển sang làm nghề bánh đa và mỳ gạo.Thổ Hà, không chỉ có nghề gốm cổ truyền, mà còn sở hữu một quần thể di sản kiến trúc của làng cổ, trong đó có ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa và Văn Chỉ, với gần hai chục tấm bia đá ghi bằng chữ nho ở cả hai mặt. Thổ Hà còn nổi tiếng với những kiến trúc cổ từ nhà cửa đến cổng làng, khu giếng cổ đều được làm bằng gạch nung và sành đắp nổi không tráng men.Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, được làm từ đôi bàn tay của những nghệ nhân dân gian của làng, thể hiện sự thịnh vượng của nghề gốm xưa kia. Đây là một trong những cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu.Cổng làng Thổ Hà là một trong những cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu.Cổng nằm ở ngay đầu làng phía trước đình, bên tả là hồ nước rộng, bên hữu có cây đa hàng trăm năm tuổi, đây là những nét rất đặc trưng mang đậm dấu ấn văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với hình ảnh cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình cùng những vòm cổng, những khu miếu thờ, từ chỉ, đình, chùa... Ngoài ra, trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1692, thời vua Lê Hy Tông. Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng. Ðình có quy mô lớn, kết cấu kiến trúc tương đối hoàn chỉnh. Các mảng chạm khắc thể hiện phong cách thời Lê rõ nét, độc đáo. Ðề tài thể hiện trên các cấu kiện kiến trúc chủ yếu là “tứ linh, tứ quý” hoa lá cách điệu, chim thú và con người. Con rồng ở đình Thổ Hà được chạm ở nhiều bộ phận: đầu dư, bẩy, kẻ, cốn, ván nong, câu đầu với các đề tài rồng ổ, rồng mẹ cõng rồng con, rồng và thiếu nữ... Bởi vậy, không ngẫu nhiên mà các nhà khoa học lại xem đình Thổ Hà là một bông hoa về nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Năm 1962, đình Thổ Hà đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia.Trong đình có ba tấm bia lớn là: Thủy tạo đình miếu bi, Cung sao sự tích thánh, Bia sao sắc phong. Có lẽ một trong những điều thu hút sự chú ý của du khách chính là nội dung được ghi ở tấm bia Thủy tạo đình miếu bi. Tại đây, mô tả khá kỹ địa hình núi sông của làng Thổ Hà: phía Đông đẹp đẽ như rồng quay về chốn tổ; phía Tây hùng vĩ như dáng hổ ngồi chầu; phía Nam có núi Hằng Lĩnh và dòng sông Nguyệt Đức, đó là sách trời đã định; phía Bắc có ngọn núi Lát, hun đúc khí thiêng cho dải đất Thổ Hà. Từ địa thế này làng đã sản sinh ra những bậc anh tài, giỏi dang, đỗ đạt, làm quan văn võ, áo đỏ tía rực rỡ chốn triều đình. Cũng từ mảnh đất này, nghề bán buôn, làm ăn sinh sôi, phát triển nhiều người giàu có, nhà nào cũng có nghề gốm phát đạt.Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng.Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự”. Niên biểu chính thức của chùa chưa được tìm thấy. Căn cứ dòng chữ ghi trên đôi rồng đá ở cửa chùa thì năm Giáp Thân 1580 đời nhà Mạc mua rồng đá, năm Canh Thân 1610 chùa được tu sửa lại. Như vậy, chùa phải được xây dựng từ trước đó.Chùa xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, có quy mô lớn, bao gồm cổng tam quan, gác chuông và tiền đường. Tam quan chùa nằm sát sau đình. Gác chuông và tiền đường được chạm trổ lộng lẫy với các đề tài rồng mây, hoa lá. Thời gian kháng chiến, quả chuông to trong gác chuông được lấy để đúc vũ khí. Trong chùa có tượng Phật tổ Như Lai to lớn và tượng Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen.Từ tòa Tam Bảo theo hai dãy hành lang vào tới Động Tiên, là một công trình kiến trúc hiếm có. Động tiên đã ghi lại đầy đủ hình ảnh Thích Ca từ lúc mới sinh ra, lúc trưởng thành và khi lìa bỏ kinh thành vào động tu hành đến đắc đạo. Tiếp theo đi qua sân rộng tới nhà Tổ, nơi đây thờ Sư Tổ và các vị sư đã trụ trì chùa. Chùa Thổ Hà được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1996.Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự”.Văn chỉ làng Thổ Hà được xây dựng vào thế kỷ 17 (theo tấm bia còn lưu giữ thì được xây dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 5, năm 1680) thờ Khổng Tử, Tứ Phối, 72 vị tiên hiền… Nơi đây được coi là cái nôi của nền học thức Thổ Hà. Đây cũng là địa điểm thu hút khá đông du khách đến tham quan, nhất là vào mùa thi cử, các sĩ tử đều đến đây thắp hương, lễ bái với tấm lòng thành kính. Văn chỉ làng Thổ Hà được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/2/1999.Vẻ đẹp cổ kính, thuần Việt, sự hồn hậu, mến khách của người dân với nghề làm gốm cổ truyền, làng Thổ Hà là một địa chỉ du lịch hấp dẫn với du khách và các nhà nghiên cứu văn hóa.

XÂY DỰNG HỒ SƠ HÁT THEN ĐỀ NGHỊ ĐƯA VÀO DANH MỤC DI SẢN VĂN HOÁ QUỐC GIA

XÂY DỰNG HỒ SƠ HÁT THEN ĐỀ NGHỊ ĐƯA VÀO DANH MỤC DI SẢN VĂN HOÁ QUỐC GIA

Mùa xuân gắn với những làn điệu dân ca mượt mà đằm thắm, dân ca, dân vũ của đồng bào dân tộc Tày, Nùng tỉnh Bắc Giang cũng mang trong mình những nét văn hoá độc đáo, mang bản sắc riêng. So với các dân tộc ít người ở Bắc Giang, người Tày và người Nùng có dân số đông hơn, người Nùng khoảng 67.000 người, người Tày xấp xỉ 38.000 người. Vào những năm đầu của thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày, Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang, tập trung ở 5 huyện: Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Họ sống và định cư độc lập ở các làng bản riêng và có truyền thống văn hóa, phong tục tập quán riêng. Bản sắc văn hoá âý trải qua nhiều bước thăng trầm vẫn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần của người Tày, người Nùng đến ngày nay. Đặc biệt những làn điệu dân ca được bảo tồn và phát huy rất tốt như Soong hao, Sli, Lượn, Then...

Tinh hoa từ đôi bàn tay

Tinh hoa từ đôi bàn tay

Nghề gốm sứ ở Bắc Giang nổi tiếng với những sản phẩm của các làng gốm vùng châu thổ sông Hồng mang các thương hiệu Thổ Hà, Phù Lãng.

Sản phẩm" Du lịch làng nghề Bắc Giang"cần được đầu tư, khai thác

Sản phẩm" Du lịch làng nghề Bắc Giang"cần được đầu tư, khai thác

Khách du lịch trong nước cũng như quốc tế, ngoài nhu cầu đi thăm quan, nghỉ dưỡng, mua sắm, nhiều du khách muốn khám phá, nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống, văn hóa của người dân địa phương. Trong những năm gần đây Du lịch làng nghề đang là một loại hình du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới khai thác rất có hiệu quả, đây là một loại hình du lịch vốn đầu tư ban đầu không lớn nhưng hiệu quả mang lại rất cao. Làng nghề thường là nơi thu hút nhiều nhất sự quan tâm của du khách bởi nó phản ánh đầy đủ các mặt trong đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân địa phương. Bắc Giang là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, hầu hết những làng nghề truyền thống ở Bắc Giang đều mang những nét đặc sắc khác biệt, tạo nên một quần thể văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng.

Cuộn xuống để xem thêm bài viết