Chủ đề

Vùng đất con người Bắc Ninh

Các bài viết mới nhất về Vùng đất con người Bắc Ninh.

239 bài viết

MỚI NHẤT

Về miền dân ca

Về miền dân ca

Nơi ngọn nguồn con suối Tà Cang linh thiêng của người Sán Chí ở xã Sa Lý huyện Lục Ngạn. Đây là chiến ải lưu danh sử sách chống Nguyên – Mông của quân dân nhà Trần. Vùng đất này, chiến địa này, máu và nước mắt...tất cả giờ đây trở nên đẹp đẽ hơn nhờ những câu hát dân ca Sán Chí vẫn vương vấn đâu đây, vang vọng trên các ngọn đồi, trong các nếp nhà trình. Tiếng hát của người Sáu Chí cũng như các dân tộc khác là hát chay, không có nhạc cụ đệm. Tuy thế, họ hát rất say sưa, dễ nhận ra tình cảm gửi gắm trong đó. Có lẽ tình đất nơi này đã nuôi ngọt những giọng ca. Ông Lâm Văn Bình - Nghệ nhân dân ca Sán Chí cho biết: “Từ bé, chúng tôi đã say mê câu hát này rồi. Cứ thế, chúng tôi lớn lên cùng câu hát. Giờ đây, dù không nhiều người hát như trước nhưng những ai biết hát đều không thể quên được”.Người Sáu Dìu ở đôi bờ sông Lục còn gọi là người Trại Ruộng, Trại Áo Nâu. Vì trang phục của họ lấy màu nâu son làm chính. Dân ca dân tộc Sán Dìu thường được tổ chức hát vào các dịp đám cưới, ngày xuân. Hát trong đám cưới gọi là tửu ca, hát ngày xuân thì hát đối đáp giao duyên. Trong tửu ca, đồng bào có làm Pa chíu lắp mời rượu, hát đố. Những bài hát đố của người Sáu Dìu không phải mấy ai cũng giải được. Bởi thế mà cuộc vui cứ kéo dài mãi. Đồng bào Tày, Nùng có mặt ở khắp thung lũng Lục Nam. Họ thường tổ chức hát ở Chũ, Phong Minh, Phong Vân, Tân Sơn, Kim Sơn của huyện Lục Ngạn vào dịp đầu Xuân. Lối hát của bà con còn được gọi là hát Sli, hát Sloong hau, hát lượn. Bà con đi chơi xuân, chơi chợ từng tốp nam tốp nữ mỗi tốp 1 bên. Họ hát trên dường đi, hát ở đầu chợ, ở bên suối bên đồi rất say sưa. Tiếng ca tiếng hát của tốp này, tốp kia vang khắp một vùng.Còn đồng bào Dao cũng có lối hát riêng của mình. Họ cũng hát giao duyên và lối hát cầu mùa. Đồng bào Hoa có ở Tân Quang, Tân Hoa, Tân Mộc huyện Lục Ngạn có tiếng hát riêng là làn điệu Sơn Ca rộn ràng vui vẻ.... Về với sông Lục là về với các vùng hạ lưu, các thung lũng, những bản làng, khe suối. Mỗi nơi có một sắc màu văn hóa riêng nhưng sự gắn cộng đồng các dân tộc thiểu số tưởng như độc lập, rời rạc lại thống nhất trong giá trị chung, giá trị văn hóa của từng dân tộc được đúc rút thành dân ca.Bên dòng sông Lục luôn thấp thoáng những bóng áo chàm và văng vẳng tiếng dân ca. Dù hiện nay, các lối hát không còn như xưa, nó được sân khấu hóa nhiều hơn, nhưng tình cảm, nỗi lòng với câu hát, với bạn hát không hề thay đổi….. Dòng nước sông Lục có thể trôi đi nhưng câu hát thì luôn còn đó, ở lại với đồng bào để đắm để say, để hòa mình với sắc thái văn hóa các dân tộc. Những làn điệu dân ca đó đã làm đắm say biết bao người về với vùng đất này. Bà Đạt, một nhạc sĩ của núi rừng. Với góc nhìn của một nhạc sĩ không phải người dân tộc thiểu số thì những nét văn hóa đó vừa dung dị nhưng lại trào dâng, vừa sắc màu nhưng lại dân dã. Tất cả là chất liệu để người nhạc sĩ đó cất lên thành những lời ca tiếng hát về mảnh đất sông Lục núi Huyền này. Nhạc sĩ Bá Đạt quê Bắc Ninh, nay ông đã 70 tuổi những hơn 60 năm ông bén duyên với mảnh đất này. 40 năm sáng tác, người nhạc sĩ “cửa rừng” đã có trong tay hơn 200 bài hát mang âm hưởng dân ca của mảnh đất sông Lục. Ông cho biết: Mỗi mảnh đất, mỗi con người lại cho ông những cảm xúc khác nhau. Dù không hiểu tiếng dân tộc thiểu số nhưng lời ca tiếng hát của họ có gì đó mộc mạc, gấn gũi đến lạ thường.Những lời ca, những tiếng hát của các dân tộc thiểu số nên 2 bờ sông Lục đã biến nơi đây thành miền đất trữ tình. Sông Lục vẫn hiền hòa chảy, xuôi dòng hòa vào lòng biển mẹ như những khúc dân ca các dân tộc ở nơi đây chảy mãi thấm đẫm vào lòng dân tộc, làm nên những giá trị và bản sắc riêng cho mảnh đất và con người miền sơn cước này. Thế Phương

Bình yên ở Nà Ó

Bình yên ở Nà Ó

Từ một nơi hoang sơ ít ai biết đến, vậy mà độ gần 10 năm trước những đoàn khách du lịch, nhất là khách “Tây” thường kéo đến bản Nà Ó, xã An Lạc, huyện Sơn Động (Bắc Giang), họ đến đây để lao động, ăn ở chung với đồng bào bản địa. Cũng có nhiều đoàn đến đây vào tuần tình nguyện thu gom rác thải, giúp dân trồng rừng, thu hoạch rau màu...

Bắc Giang - Dấu ấn những ngôi chùa cổ

Bắc Giang - Dấu ấn những ngôi chùa cổ

Đến thăm chùa Bổ Đà (Việt Yên), qua cổng ngoại chừng 50m là cổng nội vào chùa. Lối vào và cổng được dẫn bởi hai bức tường chình đất rêu phong rất lạ. Ngôi chùa cổ này nhận được rất nhiều sự quan tâm của du khách bởi sự độc đáo trong kiến trúc truyền thống vẫn còn được gìn giữ khá nguyên vẹn. Các công trình bố trí liên kết với nhau qua những hành lang. Tuy là một kiến trúc tôn giáo nhưng chùa Bồ Đà lại khiến những du khách đã một lần tới đây có cảm nhận như đang lạc vào bối cảnh của quá khứ những gia đình ở nông thôn miền Bắc những thập niên 50,60 của thế kỷ 19. Chùa hiện đang lưu giữ 1935 mộc bản kinh Phật thuộc thiền phái Lâm tế và gần 100 ngôi tháp được coi như nguồn tư liệu lịch sử quý hiếm phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học. Qua xã Trí Yên huyện Yên Dũng, một huyện nằm ở phía nam của tỉnh, vùng đất cổ có bề dày về lịch sử văn hoá và truyền thống khoa bảng, du khách nhất định phải dừng chân đến với ngôi chùa cổ nổi tiếng- chùa Vĩnh Nghiêm. Chùa Vĩnh Nghiêm toạ lạc nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương, được ví là một danh lam cổ tự đứng đầu trong thiên hạ. Đây là một ngôi chùa dòng thiền Trúc lâm do vua Trần Nhân Tông sáng lập từ thế kỷ XIII. Dân gian có câu: “Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành” Chùa nằm hướng mặt về phía Lục Đầu Giang - Kiếp Bạc, không chỉ nổi bật là một quần thể kiến trúc Phật giáo cổ kính linh thiêng, nơi đây hiện còn lưu giữ hơn 3000 ván in kinh Phật đã được công nhận là Di sản ký ức thế giới khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chùa Vĩnh Nghiêm là một điểm đến tâm linh nối kết hệ thống chùa, tháp dọc về phía tây kết nối tới Yên Tử của Quảng Ninh. Từ chùa Vĩnh Nghiêm nhìn ra du khách đã thấy màu xanh trùng điệp của dãy núi Nham Biền kỳ vĩ như bức bình phong án giữ chở che, có lẽ bởi vậy mà tương truyền nơi đây là vùng đất thiêng gắn với huyền thoại 99 con chim phượng hoàng ứng với mỗi ngọn núi. Ngay trên đỉnh Non Vua nơi có vị trí bao quát toàn vùng, thiền viện Trúc Lâm Phượng hoàng đã được hoàn thiện. Đây là công trình du lịch văn hóa tâm linh có quy mô bề thế gồm nhà tiền đường, nhà tăng nhà ni, nhà kinh sách, gác chuông. Không chỉ là địa chỉ thu hút giới phật tử, tăng ni cả nước mà nơi đây rất phù hợp để du khách bốn phương tìm về vãn cảnh, thưởng ngoạn cảnh trí hùng vĩ giữa bao la đất trời rồi lắng dịu, tĩnh tâm, phút chốc như giũ bỏ được mọi ưu lo, phiền muộn của đời thường để nhập theo lời kinh, nhịp chuông ngân nga hướng thiện. Bắc Giang nơi lắng đọng và kết tinh những giá trị truyền thống đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong mỗi , ngôi chùa cổ kính là lịch sử, là văn hóa được bảo tồn dù nhiều thế kỷ đã qua. Bài Thu Phương Ảnh Hà Yến

Du lịch bên đôi bờ sông Lục Nam

Du lịch bên đôi bờ sông Lục Nam

Điểm đầu tiên nơi du khách khởi hành là ngã ba Phượng Nhãn, nơi hợp lưu của Sông Thương, sông Lục Nam và sông Cầu, tại đây du khách sẽ có dịp ghé thăm ngôi chùa cổ trên 700 năm, đó là Chùa Vĩnh Nghiêm, chùa thuộc thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên huyện Yên Dũng. Chùa Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùa lớn, tương truyền chùa có từ thời Lý, được mở mang xây dựng vào thời Trần( thế kỷ XIII). Chùa Vĩnh Nghiêm có vai trò là một trung tâm đào tạo các tăng ni phật tử trong cả nước, ngôi chùa ngoài thờ phật còn thờ 3 vị Trúc Lâm tam tổ là Trần nhân Tông(1258-1308); thiền sư Pháp Loa(1284-1330) và thiền sư Huyền Quang(1254-1334). Đây là 3 vị tổ sư đã có công khai sáng ra dòng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Hiện nay chùa Vĩnh Nghiêm mang dấp phong cách kiến trúc của thời Lê-Nguyễn. Trong chùa còn nhiều những hiện vật cổ đặc biệt là kho mộc bản với hơn 3000 bản lẻ lưu truyền lại những giá trị vô giá của nhân loại…Kho mộc bản đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu khu vực Châu Á Thái Bình Dương .

Cuộn xuống để xem thêm bài viết