Chuyên mục

Văn hóa - Du lịch

Quan họ, lễ hội, di sản, làng nghề, ẩm thực và các điểm đến tại Bắc Ninh.

969 bài viết
Dòng họ Thân tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng Thân tộc Việt Nam

Dòng họ Thân tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng Thân tộc Việt Nam

Theo kế hoạch trong 2 ngày 3 – 4/12/2010, Hội đồng Thân tộc Việt Nam phối hợp với Hội khoa học Lịch sử Việt Nam long trọng tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 Thân tộc tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang cũng sẽ phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” từ 19 giờ 30 ngày 03/12 đến ngày 04/12, tại xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn, nơi phát tích của dòng họ Thân.

MỚI NHẤT

Du lịch lăng đá ở Hiệp Hòa: Tiềm năng còn bỏ ngỏ

Du lịch lăng đá ở Hiệp Hòa: Tiềm năng còn bỏ ngỏ

Trên địa bàn huyện Hiệp Hòa hiện có 24 lăng đá cổ (nhiều nhất tỉnh Bắc Giang), trong đó có không ít công trình được các nhà nghiên cứu đánh giá tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê ở Việt Nam. Mặc dù tiềm năng lớn nhưng hầu như hoạt động du lịch của địa phương chưa có chuyển biến.

"Đánh thức" Khu du lịch tâm linh sinh thái núi Dành - Tân Yên, Bắc Giang

"Đánh thức" Khu du lịch tâm linh sinh thái núi Dành - Tân Yên, Bắc Giang

Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách "Đại Nam nhất thống chí", trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.

Hồ Cấm Sơn

Hồ Cấm Sơn

Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình. Chính vì vậy mà có câu: “ Áo chàm xuống núi bơi thuyền/ Khăn nam phân phất như tiên dưới trần”.Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn. Tại các điểm này đều có thuyền máy để du khách thưởng ngoạn cảnh đẹp của hồ với sự hướng dẫn của chủ thuyền. Cảm giác chòng chành khi mới xuống thuyền dần nhường chỗ cho sự thích thú trước không gian ngày càng rộng mở của hồ.Theo anh Hoàng Văn Viên- một người dẫn đường thì: Người dân sống quanh hồ Cấm Sơn đến nay vẫn truyền tụng những câu chuyện huyền thoại, ly kỳ về sự tích núi Ba Hòn, suối Cấm, suối Mọc, suối Vảy Rồng, núi Kỉn, làng Mấn, đảo Lăn Lóc... Những câu chuyện kể mang màu sắc huyền thoại đã thổi hồn vào cảnh vật làm cho từng dãy núi, khu rừng bao bọc xung quanh mặt nước trở nên hữu tình ít nơi có được. Buổi sớm mai là thời gian thích hợp nhất để chiêm ngưỡng cảnh sắc, không gian mặt hồ Cấm Sơn. Những làn sương sớm phủ màu trắng đục huyền ảo trên mặt hồ dần tan vào sóng nước khi mặt trời ló rạng. Mặt hồ gợn sóng lấp lánh trong nắng sớm, vài chiếc thuyền nan lướt qua, chợt nao nao một nỗi niềm bâng khuâng xa vắng như văng vẳng câu ca của nhạc sĩ Phó Đức Phương “Thuyền ta ngược, thuyền ta xuôi, giữa dòng nước bạc, nhịp chèo ta bơi…”Được hoà mình vào thiên nhiên hoang sơ, cảm nhận bầu không khí trong lành, cảm nhận vẻ đẹp và thấy yêu quý thiên nhiên hơn. Lúc này, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ khi đứng trước một bức tranh thủy mặc làm nao lòng người. Cũng có lý khi có người đã ví hồ Cấm Sơn giống như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ, một chiếc máy điều hòa không khí khổng lồ cho miền sơn cước Lục Ngạn.Nếu đến Cấm Sơn vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7, du khách còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vùng đồi Lục Ngạn đỏ rực khi mùa vải chín. Thưởng thức những quả vải đỏ mọng, ngọt lịm đến tê đầu lưỡi và hòa vào không khí của một mùa thu hoạch của người dân vùng đồi.Không chỉ vậy, lòng hồ Cấm Sơn bao la cho nhiều cá tôm, vào những đêm trở trời, những chiếc vó của đồng bào dân tộc nơi đây có thể bắt được vài trăm kg cá một mẻ, đã từng có những con cá nặng đến 40-50 ký. Nên khi đến đây, du khách có thể được thưởng thức những món ăn dân dã nhưng không kém phần hấp dẫn của vùng đất này đó là món tôm hồ mới nướng, món gà đồi luộc thơm mùi lá chanh, món măng rừng luộc chấm muối ớt và nhâm nhi chén rượu Kiên Thành trên đảo nhỏ…Để rồi khi chia tay Cấm Sơn, chúng tôi cũng như nhiều du khách khác sẽ có cảm giác như bâng khuâng, tiếc nuối và mong có dịp trở lại nơi này./.

MÓN NGON TỪ CUA DA

MÓN NGON TỪ CUA DA

Có một loài cua sống trong các ghềnh đá ở đoạn sông Cầu chảy qua địa phận một số xã ven sông huyện Yên Dũng (Bắc Giang) như: Đồng Việt, Đồng Phúc, Thắng Cương mà dân trong vùng quen gọi là “Cua Da”. Loài cua này rất đặc biệt ở chỗ chỉ xuất hiện và khoảng đầu Đông trong thời gian khoảng 2 tháng (tháng 9 và tháng 10 âm lịch) hàng năm.Đây là một loài cua sông to gần bằng con ghẹ, về hình thức cơ bản trông giống loài cua đồng, nhưng chân dài, mình to gấp ba, bốn lần cua đồng và mang một số đặc điểm khác biệt với họ nhà cua. Đó là hai càng của giống cua này có hai lớp lông như rêu bám vào, yếm cua cũng có lớp diềm rêu điệu đà. Chính cái lớp lông rêu này đã khiến nhiều người băn khoăn về tên gọi của loài cua này là: “Cua Da, Cua Da hay là Cua Gia?”. Có người nói rằng phải gọi là “cua ra” vì gắn với câu tục ngữ “Tháng chín cua ra, tháng ba cua vào”. Có người lại nói phải gọi là “cua da” vì loài cua này có một lớp da trên càng. Có người lại bảo phải gọi là “cua gia”, vì đơn giản tên gọi ấy nghe có vẻ hay hơn, hợp lý hơn.Theo anh Phạm Văn Trường, 42 tuổi ở xóm Cựu Trên, xã Đồng Phúc, Yên Dũng-người có thâm niên trong nghề thu gom và bán Cua Da cho các nhà hàng đặt sẵn trong huyện, thành phố và một số tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội cho hay: “Khoảng hơn 10 năm về trước, người đi chài lưới rất ghét loại cua này vì nó rất tanh. Nhưng từ khi người dân biết ăn cua bằng cách hấp bia, có xả, gừng nhâm nhi cùng thứ rượu nếp thơm nồng nút bằng lá chuối; biết giã ra nấu riêu ăn với bún có kèm rau sống cùng một chút hoa chuối thì nó trở thành đặc sản”. Cũng theo anh Trường, thị trường cua da ngày càng sôi động, những năm trước cua da có giá từ 30.000- 40.000 đồng rồi tới 100.000 đồng, và đến nay đã là 160.000 đồng/kg. Thu nhập từ cua đã giúp một số hộ dân nơi đây giảm nghèo, có cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, do giá trị tăng cao nên nhiều người đi săn lùng cua da, do vậy lượng cua ngày càng hiếm. Đặc biệt, nó chỉ có ở một số khúc sông thuộc địa phận vài xã vùng hạ Yên Dũng, và xuất hiện trong vòng hai, ba tháng rét cuối năm nên giá trị của cua da ngày càng tăng do xuất phát từ yếu tố “hiếm” mà thành “quý” chăng?Theo kinh nghiệm của người dân làng chài nơi đây, Cua Da có thể được chế biến thành nhiều món như: cua hấp bia, cua rang muối, cua chiên, cua giã nấu canh… Nhưng ăn cua da ngon nhất và đơn giản nhất là đem hấp bia. Bỏ cua vào thùng, xả nước và xóc mạnh cho sạch. Mỗi con cua to nặng từ 100g-200g, xếp vào nồi, rắc thêm chút bột canh, bỏ thêm xả, gừng, rót bia xâm xấp mình cua, đặt lên bếp. Để lửa thật nhỏ, đun li ti cho đến khi bia sôi lăn tăn thì bật lửa to cho sôi bồng lên là bắc ra. Lửa nhỏ để giữ cho càng và chân không bị rụng, đồng thời để gia vị ngấm, khử mùi tanh.Khi cua chín có màu vàng cam rất hấp dẫn. Thịt cua ngọt, lớp vỏ ở chân và càng cua khá mềm, khi ăn không cần dùng đến kẹp như cua hay ghẹ biển. Ăn cua da chấm bột canh pha mù tạt kèm nửa quả chanh vắt vào thì không gì thú vị bằng. Thật cảm ơn cho người đưa món cua này vào thành món đặc sản. Nó không chỉ giúp người dân nơi đây tăng thêm thu nhập, mà còn góp phần đưa vùng đất này có thêm một món đặc sản “của hiếm Cua Da”. Bài, ảnh: Ngọc Bảo Anh

Lễ hội chiến thắng Xương Giang

Lễ hội chiến thắng Xương Giang

Lễ hội Xương Giang được tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân (từ mùng 6 – 7 tháng Giêng Âm lịch). Đây là lễ hội kỷ niệm chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427, là chiến thắng quan trọng của miền biên ải Đông Bắc, quyết định cho nền độc lập dân tộc vào thế kỉ 15, được sử sách coi là trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, là một lễ hội phản ánh lịch sử hào hùng chống xâm lăng của dân tộc. Trải qua 583 năn, dư âm của chiến thắng Xương Giang vẫn còn vang dội. Ngày hội toàn thắng của quân dân Đại Việt vẫn còn hiện ra trong tâm trí bao thế hệ. Bắc Giang mở hội Xương Giang cũng chính là tái hiện lại một phần lễ hội toàn thắng của nghĩa quân Lam Sơn khi xưa.Lễ hội Xương Giang được tổ chức với nhiều địa điểm, chính hội là nơi làm lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sỹ Lam Sơn ở thành Xương Giang, thuộc khu ngã ba Quán Thành, xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Ngoài trung tâm này, không gian văn hoá của lễ hội còn mở rộng tới các xã, phường của thành phố Bắc Giang. Tất cả các điểm đình chùa, đền miếu, hoặc nhà văn hoá của các cơ sở có lực lượng tham gia đều dương cờ, căng biểu ngữ và tập trung để tiến về nơi làm lễ khai hội.Sáng sớm ngày mùng 6, các đoàn người từ các thôn, làng, phường, xã, dương cờ, gióng trống, xe kiệu với áo quần rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội. Không khí cờ hoa, biểu ngữ, các đoàn quân hành tiến trong tiếng trống, tiêng chiêng, tiếng nhạc vang lừng. Cuộc rước tại lễ hội Xương Giang thật long trọng, uy nghi, đẹp đẽ và khí thế rầm rập, hết đoàn kỳ lân này lại đến đoàn kỳ lân khác, hết xe biểu tượng này đến xe biểu tượng khác, hết kiệu này đến kiệu khác, hết đoàn quan viên này đến đoàn quan viên khác…Đoàn rước rùng rùng chuyển mình như rồng, như rắn, trống chiêng vang lừng. Hình ảnh các đoàn quân lên đường lúc này khác xa hình ảnh các đoàn quân tiến về khu khai hội. Lúc các đoàn từ làng, xã kéo đến là không khí chiến thắng từng trận, từng trận một, còn lúc này là khí thế đại đoàn quân tổng công kích giành đại thắng. Khí thế ấy được ví như:“ Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông” (Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi) hay. “ Kìa trận Hợp Phì thuở trước… Sao bằng đây Xương Giang vẻ vang” ( Xương Giang Phú - Lý Tử Tấn)Năm nào cũng thế, mỗi khi đến giờ khai hội, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang và các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, của thành phố cũng đều đến dự khai hội và làm lễ dâng hương, sau đó tất cả các đoàn cùng nhau lần lượt rước lên dâng hương tưởng niệm các anh hùng.Lễ dâng hương được tổ chức ở trung tâm khai hội rất long trọng. Ở đây các lễ chào cờ, lễ đọc diễn văn khai mạc, đọc “Đại cáo bình ngô”, đọc “Xương Giang phú”, lễ múa ra quân được tiến hành. Giữa các lễ này đều có nhạc hiệu làm nền vang lên trầm hùng và thúc giục lòng người.Sau lễ dâng hương các đoàn rước trở về làng mình, làm lễ Am Vị đưa xếp các đồ tế khí, kiệu, ngựa vào vị trí cũ. Riêng làng Thành và Làng Vẽ thì là lúc bắt đầu vào hội lệ của làng mình.Hội Xương Giang là lễ hội có qui mô lớn, khí thế mạnh mẽ, có nhiều địa phương tham gia, hình thức khai hội thay đổi theo từng năm rất phong phú. Trong ngày hội huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn cũng cử đoàn đại diện tham dự. Tại Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang cũng mở hội Cần Trạm – Phố Cát hưởng ứng. Lễ hội Xương Giang có tính chất liên tỉnh, liên huyện và để lại ấn tượng sâu sắc trong đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân các địa phương. Nơi dâng hương tưởng niệm chính là thành Xương Giang năm xưa. Bởi thế qua lễ hội này, truyền thống lịch sử hào hùng của cha ông thuở trước sẽ được khơi dậy và phát huy tốt đẹp trong lớp lớp con cháu mai sau. Thân Quang Huy

Lễ hội văn hóa dân gian Bắc Giang

Lễ hội văn hóa dân gian Bắc Giang

Lễ hội là một hình thái sinh hoạt văn hoá cộng đồng của làng xã Việt Nam. Từ bao đời nay, lễ hội đã gắn liền với những phong tục, luật tục của làng xã, vốn văn học nghệ thuật dân gian và tinh thần đoàn kết đấu tranh chống thiên nhiên, chống kẻ thù xâm lược. Do có truyền thống văn hoá lâu đời và có nhiều dân tộc anh em sinh sống, Bắc Giang - vùng Kinh Bắc xưa còn nổi tiếng là miền quê có nhiều lễ hội. Mỗi năm có hàng trăm lễ hội được tổ chức ở khắp các thôn quê trong tỉnh, vào dịp đầu xuân, theo phong tục tập quán hầu hết các địa phương đều tổ chức lễ hội với các trò chơi dân gian, cùng những lời ca tiếng hát của nhiều dân tộc anh em khác nhau như: hát Chèo, Quan họ, Then, Sli, Sloong hao, Chầu văn... theo khu vực thôn xã. Các lễ hội này có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nghiên cứu, khách du lịch trong và ngoài nước.

Thăm vườn tháp chùa Bổ Đà

Thăm vườn tháp chùa Bổ Đà

Vườn tháp chùa Bổ ĐàThiền phái Lâm Tế được truyền vào nước ta từ những năm cuối thế kỷ 17 gắn liềnv ới sự kiện phái đoàn hoằng pháp của Thiền sư Thạch Liêm - Đại Sán sang nước ta truyền giới theo lời thỉnh cầu của Quốc chùa Nguyễn Phúc Chu. Hoà Thượng Thạch Liêm cùng Hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Linh Mụtại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Ở xứ Kinh Bắc, có hai chốn tùng lâm sớm ảnh hưởng và tiếp nhận dòng Lâm Tế là chùa Bổ Đà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và chùa Bảo Quang (còn gọi là chùa Bách Tháp) ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hai sơn môn này đều được phát triển từ nửa đầu thế kỷ 18 và là nơi được nhiều tăng ni thuộc phái Lâm Tế ở miền Bắc nước ta trọn làm nơi an nghỉ vĩnh hằng. Chính vì thế, hai ngôi chùa này là hai danh lam cổ tự có vườn tháp nhiều ngôi nhất nước ta. Tuy nhiên, do hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhiều ngôi tháp chùa Bảo Quang (tức chùa Bách Tháp) bị mai một nay chỉ còn mấy chục ngôi... Trong khi đó, vườn tháp chùa Bổ Đà vẫn còn nguyên vẹn, và nay trở thành vườn tháp cổ và có quy mô rộng lớn. Vườn tháp chùa Bổ Đà nơi tàng lưu xá lị, tro cốt nhục thân của các tăng ni dòng thiền Lâm Tế nằm ở bên trái khu Nội tự và Vườn chùa. Đó là bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của núi Bổ Đà có diện tích gần 8.000m2. Bao quanh vườn tháp nhà chùa đã dùng đá núi, gạch chỉ và đất tạo nên bức trường để giữ gìn yên tĩnh giấc ngủ ngàn thu cho các những nhà tu hành đắc đạo. Nhiều du khách đến thăm vườn tháp chùa Bổ Đà không khỏi ngạc nhiên trước sự mênh mông rộng lớn của vườn tháp, nhất là số lượng các ngôi tháp ở đây quả xứng đáng được liệt danh vào cuốn sách ghi kỷ lục của nước nhà. Qua gần ba trăm năm hưng thịnh, và kể từ khi sư tổ có tên tục là Phạm Kim Hưng viên tịch đến nay, sơn môn Bổ Đà đã xây dựng tất cả 97 ngôi tháp, mộ lớn nhỏ. Trong vườn tháp ta thấy đa số là những ngôi tháp ba, bốn tầng với độ cao từ từ ba đến năm mét, riêng mấy ngôi tháp sư tổ thì đồ sộ cao rộng hơn nữa. Tàng chứa trong gần 100 ngôi tháp cổ là mộ, xá lị, tro cốt của trên 1200 nhà sư tu hành đắc đạo của dòng Lâm Tế khắp nơi trên cả nước từ gần ba thế kỷ nay. Điều độc đáo mà du khách được chiêm bái ở vườn tháp chùa Bổ Đà, đó là trong vườn có cả tháp mộ sư tăng, sư ni (điều hiếm thấy ở các dòng phái khác). Tháp mộ sư tăng trên đỉnh tháp bao giờ cũng gắn bình cam lộ đặt trên tòa sen. Tháp sư ni thì khác, đỉnh tháp mộ lại được gắn một búp sen...Như thế, Phật tử có thể đến vãn cảnh vẫn biết được có bao nhiêu vị tăng, ni viên tịch và yên nghỉ ở chốn này. Các ngôi tháp chùa Bổ Đà đều được kiến tạo bằng đá và gạch chỉ được bít mạch dùng vôi vữa trộn với mật mía và bột giấy bản nên rất bền và mịn. Đa số các ngôi tháp đều có tên, trong lòng tháp thường đặt bia ghi bài vị và ghi thời gian sinh, hóa của các nhà sư, cho nên mỗi ngôi tháp đều là những nguồn tư liệu chân thực giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về Phật phái Lâm Tế nói chung, lịch sử chùa Bổ Đà nói riêng. Quang cảnh chùa Bổ Đà nhìn từ trên caoXưa nay, vườn tháp được xem như một công trình kiến trúc góp phần tôn vinh giá trị cho danh lam cổ tự và thu hút đông đảo khách thập phương đến du ngoạn cảnh chùa. Vườn tháp cùng hệ thống kiến trúc độc đáo phần nội tự, hệ thống cổng chùa, tường đất cũ kỹ rêu phong, vườn cây đại thụ chùa Bổ Đà thật xứng danh là ngôi chùa mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Hội chùa Bổ Đà từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 18 tháng 2 hàng năm. Vào ngày hội khách thập phương thường đến rất đông. Để đi tới Chùa Bổ, từ Hà Nội đi tới thành phố Bắc Ninh, qua cầu Thị Cầu rẽ trái men đê sông Cầu 3 km là tới. Hoặc tới Thổ Hà đi tiếp theo hướng Bắc tới làng Lát rẽ phải, từ Thổ Hà tới Chùa Bổ là 3 km. Đến thăm Chùa Bổ là du khác đã được chiêm ngưỡng một địa điểm du lịch nổi tiếng của đất Kinh Bắc xưa và của tỉnh Bắc Giang ngày nay.

Một số lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Một số lễ hội truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Là một tỉnh miền núi, nhưng Bắc Giang không chỉ nổi tiếng về những di tích lịch sử- văn hoá, danh lam thắng cảnh, mà nơi đây còn nổi tiếng về những lễ hội dân gian truyền thống với nhiều loại hình độc đáo và nội dung phong phú, hấp dẫn. Nằm trong vùng Kinh Bắc trước đây, Bắc Giang vốn là một vùng nông nghiệp điển hình, có nền kinh tế, văn hoá phát triển, đời sống người dân tương đối phong lưu. Dân gian có câu: “Ăn Bắc mặc Kinh”. Đó là thực tế và cũng là cơ sở lý giải vì sao lễ hội Bắc Giang đã xuất hiện và tồn tại trong suốt chiều dài lịch sử.

ĐÌNH LŨ PHÚ NƠI BẦU QUỐC HỘI KHOÁ I

ĐÌNH LŨ PHÚ NƠI BẦU QUỐC HỘI KHOÁ I

Đình Lũ Phú, xưa thuộc làng A Lu, tổng Xuân Đám, huyện Phượng Nhỡn, tỉnh Bắc Giang, nay thuộc xã Xuân Phú, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Theo truyền tích được biết đình Lũ Phú được xây dựng từ lâu đời theo kiểu chữ Nhất trên mảnh đất có tên là Bãi Đồn, niên đại chính xác được khắc trên tấm bia hiện còn được bảo lưu tại đình vào thời Lê Trung Hưng, tháng 10 năm Canh Ngọ – năm 1680, ngôi đình được nhân dân đại trùng tu với dáng vẻ uy nghi, cổ kính với bình đồ kiến trúc hình chữ công, gồm 7 gian tiền tế, 3 gian ống muốn, 3 gian hậu cung, hai bên có hai dãy tả vu, hữu vu, trước cửa đình có cây đa và cây kéo cổ thụ…Ngày 21 tháng 10 năm 1953, ngôi đình bị bom Pháp tàn phá, dân xã tận dụng toàn bộ nguyên vật liệu để xây 12 gian lớp tiểu học, một nhà trạm xá 3 gian và một trụ sở Uỷ ban nhân dân xã 5 gian…như vậy có thể thấy, trước đây qui mô của đình Lũ Phú rất lớn. Năm 1991, nhân dân địa phương đại trùng tu lại ngôi đình khang trang tố hảo như hiện nay.

Mùa xuân với câu hát sịnh ca

Mùa xuân với câu hát sịnh ca

Dân tộc Cao Lan một trong 54 dân tộc thiểu số ở Việt Nam và là một trong 8 dân tộc có số dân dông ở Bắc Giang, cư trú tập trung ở các huyện Lục Ngạn, Lục Nam, Sơn Động và Yên Thế. Người Cao Lan vốn cần cù lao động, họ luôn có tâm hồn lạc quan, phóng khoáng, yêu đời, yêu văn nghệ. Bắt nguồn từ cuộc sống lao động chứa chan đầy sức sống. Dân tộc Cao Lan đã để lại vốn văn học dân gian vô cùng phong phú và đa dạng, gồm nhiều thể loại như: truyện cổ, thơ ca, hò vè, tục ngữ, ca dao và dân ca (sịnh ca).

Khau Nhục - Món đặc sản của dân tộc Hoa Kiều ở Bắc Giang

Khau Nhục - Món đặc sản của dân tộc Hoa Kiều ở Bắc Giang

Khau nhục là món ăn phổ biến của dân tộc Hoa, món ăn có xuất xứ từ Trung Hoa, được chế biến từ thịt lợn. Để chế biến món khau nhục phải qua nhiều công đoạn cầu kỳ. Nguyên liệu để làm món khau nhục gồm có: thịt lợn ba chỉ, húng lìu, ngũ vị hương, địa liền, tỏi, ớt, rượu, dấm, bột ngọt, hạt tiêu…Khi chế biến món này, phải dùng thịt lợn ba chỉ tươi ngon, cắt thành miếng vuông, khổ 16x16cm (dành cho 6 người ăn), rửa sạch cho vào nồi luộc kỹ. Thịt chín vớt ra để nguội. Cạo sạch phần bì của miếng thịt, dùng vật nhọn châm vào bì thật kỹ, khi thấy bì chảy mỡ ra thì lau sạch, lấy rượu hoặc dấm bôi vào lớp da bì đó cho thấm đều. Tiếp theo cho thịt vào chảo mỡ nóng chao (rán) sao cho vàng đều mới vớt ra. Miếng thịt vừa vớt ra khỏi chảo được ngâm ngay vào nước lạnh, cho vào nồi luộc cho thịt săn lại, vớt ra để nguội. Mỗi miếng cắt khoảng 2cm rồi tẩm các loại gia vị cho thật đều. Sau đó xếp các miếng thịt vào bát tô đặt phần bì xuống dưới đáy bát, phần thịt quay lên phía trên để tiện cho việc rắc gia vị được ngấm đều rồi đưa vào nồi hấp cách thuỷ một lần nữa đến khi thịt mềm nhũn thì bỏ ra ăn. Bên dưới bát khau nhục bày các loại gia vị như: rau xanh, mộc nhĩ, ớt.Khi chín khau nhục có màu vàng đều, hấp dẫn, mùi thơm đặc trưng lôi cuốn người ăn và ăn khi còn nóng. Ai đã từng một lần thưởng thức món khau nhục thì không thể quên hương vị độc đáo của nó, mùi thơm của gia vị, béo ngậy của thịt sẽ đánh thức giác quan của bạn. Theo:http://www.dulichvn.org.vn

Cuộn xuống để xem thêm bài viết