Tôi và anh quen nhau từ thời còn đi học. Khi đó, cả hai từng mơ về một tương lai tốt đẹp nên tôi chưa bao giờ nghĩ anh sẽ vì tiền bạc, địa vị mà phản bội. Sau khi chia tay, tôi mới phát hiện mang thai. Anh bỏ mặc tôi, đi lấy tiểu thư nhà giàu.
Thời gian đó vô cùng khó khăn. Khi con chào đời, tôi báo cho anh biết để thực hiện trách nhiệm của một người cha. Anh thừa nhận đó là con mình, vì đang giữ chức giám đốc tại gia đình vợ nên không muốn chuyện này bị tiết lộ. Anh đề nghị không để tên anh trong giấy khai sinh và hứa sẽ chu cấp 5 triệu đồng mỗi tháng.
Tin lời anh, tôi nghĩ ít nhất con mình cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ từ cha. Nhưng anh không gửi tiền. Đến khi con một tuổi, tôi hỏi thì anh nói đang khó khăn, khi nào có sẽ gửi. Cứ vậy, đến nay con đã 5 tuổi vẫn chưa nhận được khoản cấp dưỡng nào.
Con càng lớn, chi phí càng nhiều. Tôi phải một mình đi làm nuôi con và chăm sóc ba mẹ già đau bệnh nên ngày càng khó khăn. Vì vậy, tôi muốn yêu cầu anh thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Xin hỏi, dù tôi và anh không đăng ký kết hôn, tôi có quyền yêu cầu anh cấp dưỡng cho con không? Nếu có thì tôi cần làm những thủ tục gì để bảo vệ quyền lợi của con?
Độc giả Mỹ An
Thạc sĩ luật Nguyễn Trúc Anh tư vấn:
Mang thai, sinh nở và nuôi dưỡng một đứa trẻ nên người chưa bao giờ là hành trình dễ dàng. Khi phải một mình gánh vác mọi trách nhiệm từ chăm lo cho con đến phụng dưỡng cha mẹ già, những nhọc nhằn ấy trở nên nặng nề hơn. Tôi thấu cảm những điều bạn chia sẻ nhưng thực tế để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho con, bạn nên làm những việc sau đây:
Thứ nhất, con sinh ra có đủ cha mẹ thì việc chăm sóc và nuôi dưỡng con là nghĩa vụ của cha mẹ. Chỉ khi một trong hai người mắc bệnh nặng hoặc gặp khó khăn trong vấn đề nhận thức hoặc mất đi thì người còn lại mới phải gánh vác nghĩa vụ này.
Do đó, trước tiên, bạn cần yêu cầu cha của đứa bé thực hiện nghĩa vụ, đồng thời, lưu giữ các tài liệu, chứng cứ thể hiện các yêu cầu này.
Thứ hai, nếu người cha không cấp dưỡng theo yêu cầu, bạn có quyền khởi kiện ra Tòa án nơi người cha cư trú để xác định mối quan hệ cha - con, đồng thời yêu cầu người cha phải cấp dưỡng cho con.
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Luật hôn nhân gia đình 2014, con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ. Điều này có nghĩa là mặc dù cha mẹ không đăng ký kết hôn thì con vẫn được quyền có cha, được ghi nhận tên cha trong giấy khai sinh.
Khác với các trường hợp cha mẹ có đăng ký kết hôn, trường hợp này, bạn cần chuẩn bị hồ sơ gồm Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh của con, Căn cước công dân của bạn và bằng chứng chứng minh cho yêu cầu xác định cha - con là có căn cứ hợp pháp (chẳng hạn kết quả ADN, hoặc các tài liệu chứng cứ khác có liên quan). Trường hợp cha không thừa nhận thì phải có chứng cứ rõ ràng và được tòa xác nhận.
Khi việc xác định cha cho con xác lập về mặt pháp lý, mới xét đến yêu cầu cấp dưỡng.
Trong trường hợp không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, theo quy định của Luật hôn nhân gia đình 2014 và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình, tòa án sẽ ra quyết định mức cấp dưỡng trên cơ sở thu nhập và khả năng tài chính của cha cùng nhu cầu thiết yếu của con, nhưng không được thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cha đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con.
Hiện tại, có bốn mức lương tối thiểu vùng theo Nghị định 293/2025/NĐ-CP gồm:
- Vùng I: 5.310.000 đồng/tháng.
- Vùng II: 4.730.000 đồng/tháng.
- Vùng III: 4.140.000 đồng/tháng.
- Vùng IV: 3.700.000 đồng/tháng.
Tùy theo nơi cư trú của người cha để xác định mức cấp dưỡng tối thiểu trong trường hợp các bên không thỏa thuận được.
Ngoài ra, nghĩa vụ cấp dưỡng có thể được thực hiện theo tháng, quý, nửa năm hoặc năm. Trường hợp cha có nghĩa vụ cấp dưỡng gặp khó khăn về kinh tế thì có thể thỏa thuận thay đổi mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng hoặc không sẽ yêu cầu tòa án giải quyết.
Khi nghĩa vụ cấp dưỡng được ghi nhận bởi quyết định hoặc bản án của tòa án, người cha phải thực hiện. Trường hợp cha có hành vi cố ý trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, tùy mức độ nghiêm trọng có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Căn cứ Khoản 1 Điều 43 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đến 10 triệu đồng.
Theo điều 186 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ mà từ chối hoặc trốn tránh, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt hành chính mà vẫn còn bị vi phạm, hoặc không thuộc trường hợp phạm tội không chấp hành án thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.
Trên đây là nội dung tư vấn, bạn có thể tham khảo để sớm giải quyết những vướng mắc hiện tại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho con.