Chuyên mục

Văn hóa - Du lịch

Quan họ, lễ hội, di sản, làng nghề, ẩm thực và các điểm đến tại Bắc Ninh.

961 bài viết
THẦY TÀO TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NGƯỜI NÙNG TỈNH BẮC GIANG

THẦY TÀO TRONG TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NGƯỜI NÙNG TỈNH BẮC GIANG

Là thành phần dân tộc có số dân đông thứ hai trên địa bàn toàn tỉnh, người Nùng tỉnh Bắc Giang hiện nay vẫn còn bảo lưu được kho tàng di sản văn hoá truyền thống do ông cha để lại. Đó là những di sản văn hoá phong phú và độc đáo tồn tại trong đời sống của đồng bào qua bao thế hệ như tiếng nói, chữ viết, trang phục truyền thống, tập quán xã hội, dân ca, dân vũ,… và đặc biệt phải kể đến tín ngưỡng dân gian, một trong những yếu tố tạo nên sự khác biệt trong đời sống văn hoá người Nùng so với các thành phần dân tộc khác trong khu vực.

MỚI NHẤT

PHONG TỤC CƯỚI HỎI NGƯỜI NÙNG HUYỆN LỤC NGẠN

PHONG TỤC CƯỚI HỎI NGƯỜI NÙNG HUYỆN LỤC NGẠN

Dân tộc Nùng đứng thứ 2 về dân số trong 8 thành phần dân tộc chủ yếu của tỉnh Bắc Giang (chỉ sau người Kinh). Toàn tỉnh Bắc Giang có 73.932 người phân bố chủ yếu ở các huyện Lục Ngạn, Yên Thế, Lục Nam, Sơn Động, Lạng Giang và một số ít ở Tân Yên, Việt Yên. Tại Lục Ngạn, người Nùng sinh sống ở các xã Sơn Hải, Hộ Đáp, Cấm Sơn, Xa Lý, Phong Vân, Biên Sơn, Kim Sơn, Giáp Sơn, Tân Sơn…Họ cũng là những cư dân di cư từ các tỉnh biên giới phía Bắc vào vùng đất Lục Ngạn. Người Nùng ban đầu cư trú thành từng làng bản. Họ ở nhà sàn, tự trồng bông dệt vải nhuộm chàm và may thành quần áo để mặc. Sau này dân số tăng lên, họ ở xen canh, xen cư và chuyển dần từ nhà sàn xuống nhà trệt. Người Nùng có những nét văn hóa riêng mang bản sắc văn hóa tộc người. Hằng năm vào các mùa lễ hội, người Nùng rủ nhau đi hội để hát sli, hát lượn, soong hao làm cho văn hóa Lục Ngạn thêm đa sắc.

KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH GẮN VỚI GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN TỘC NÙNG HUYỆN LỤC NGẠN

KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH GẮN VỚI GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN TỘC NÙNG HUYỆN LỤC NGẠN

Bắc Giang tự hào với dân ca Quan họ, hát Then, hát tính, hát văn gắn liền với các lễ hội, điểm nhấn du lịch Bắc Giang là các lễ hội, lễ hội tái hiện quá khứ bằng các nghi thức tế lễ và các trò diễn, diễn xướng, trò chơi dân gian, văn nghệ dân gian có khả năng hấp dẫn du khách và giữ chân khách thưởng thức, nghiên cứu. Thông qua hoạt động lễ hội chúng ta có thể quảng bá hình ảnh cùng các nét văn hóa đặc trưng của địa phương, góp phần phát triển du lịch. Cùng với lễ hội, cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa và các giá trị nhân văn khác như văn nghệ cổ truyền, các trò chơi dân gian, ẩm thực tiêu biểu của địa phương cũng là những yếu tố quan trọng thu hút du khách tới tham quan, thưởng thức.

Người Dao bản Mậu và việc cần nỗ lực giữ gìn bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Người Dao bản Mậu và việc cần nỗ lực giữ gìn bảo tồn phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Lâu nay, giữa cuộc sống hối hả tấp nập của xã hội đương đại, giá trị văn hoá truyền thống dân tộc ngày càng khẳng định vai trò và vị trí không thể thiếu trong đời sống hiện tại. Do đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Dao bản Mậu luôn một trong những nhiệm vụ cần thiết và quan trọng đối với địa phương.

MÙA XUÂN TÌM HIỂU LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI DAO Ở SƠN ĐỘNG

MÙA XUÂN TÌM HIỂU LỄ HỘI CẦU MÙA CỦA NGƯỜI DAO Ở SƠN ĐỘNG

Dân tộc Dao ở Bắc Giang có khoảng trên 10 nghìn người cư trú tại 4 huyện miền núi: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế. Trong đó, người Dao tập trung nhiều nhất tại huyện vùng cao Sơn Động, chủ yếu thuộc các nhóm Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán và Dao Lô Gang. Trong số các nhóm Dao hiện đang có mặt tại tỉnh Bắc Giang thì Dao Thanh Y đến cư trú khoảng thế kỷ XVII, còn Dao Lô Gang đến muộn hơn, có thể từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Hiện nay, họ sống tập trung thành làng riêng hoặc xen kẽ với một số dân tộc anh em như Tày, Nùng, Sán Chay... Cùng với các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, đầu năm là thời điểm diễn ra các Lễ hội. Trong đó có Lễ hội Cầu mùa (chầu nhẩn) của người Dao huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang. Đây là lễ hội dân gian mang sắc thái tín ngưỡng văn hoá đặc trưng tiêu biểu của người Dao huyện Sơn Động còn duy trì đến ngày nay.

TỤC THỜ CÚNG BÀN VƯƠNG- LÝ GIẢI VỀ NGUÔN GỐC DÂN TỘC DAO

TỤC THỜ CÚNG BÀN VƯƠNG- LÝ GIẢI VỀ NGUÔN GỐC DÂN TỘC DAO

Dân tộc Dao cư trú ở Bắc Giang đã nhiều thế kỷ, có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao. Theo số lượng thống kê năm 2019, dân tộc Dao ở Bắc Giang có 12.379 người phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Động, Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Thế. Người Dao ở Bắc Giang có các nhóm: Dao Thanh Y, Dao Thanh Phán, Dao Lô Gang. Các nhóm người Dao có sự khác biệt về tiếng nói, trang phục, một số lễ nghi trong đời sống, kiến trúc nhà cửa, các loại hình văn hóa dân gian... Tuy nhiên, các nhóm người Dao này đều có chung một tín ngưỡng là tục thờ cúng Bàn Vương.

Kết nối các tour du lịch từ bản người Dao tại Tây Yên Tử

Kết nối các tour du lịch từ bản người Dao tại Tây Yên Tử

Hiện nay, với tiềm năng thế mạnh về du lịch, khu vực Tây Yên Tử đã và đang khai thác nhiều sản phẩm du lịch du lịch sinh thái, trải nghiệm và du lịch cộng đồng nhằm thu hút du khách. Trong đó bản người Dao Tây Yên Tử là một trong những điểm đến hấp dẫn được ưa chuộng bởi tiềm năng tự nhiên, sinh thái và giá trị văn hóa xã hội độc đáo của người dân bản địa nơi đây.

TỤC CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO

TỤC CẤP SẮC CỦA NGƯỜI DAO

Dân tộc Dao là một trong bảy thành phần dân tộc chủ yếu của tỉnh Bắc Giang, sinh sống chủ yếu tại các huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam và Yên Thế. Người Dao ở Bắc Giang có 2 nhóm chính là Dao Thanh Phán và Dao Thanh Y. Người Dao theo tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh” và có nhiều lễ nghi nông nghiệp: lễ cầu mùa, lễ cúng cơm mới, lễ tạ thần nông… Việc thờ cúng Bàn vương và đưa hồn người chết về Dương Châu ở các nhóm Dao phản ánh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Dao. Bên cạnh Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tín ngưỡng của người Dao. Chủ nghĩa đa thần nguyên thuỷ và hệ thống thần linh của Đạo giáo gắn bó chặt chẽ với nhau đã hình thành nên thế giới quan và nhân sinh quan của người Dao. Họ tin ở ma quỉ, thần thánh có thể làm phúc hoặc làm hại cho người, tin vào khả năng giao tiếp với thần linh, với tổ tiên của các thầy cúng. Người Dao có một kho tàng thơ ca, tục ngữ phong phú, một số truyện thơ, truyện cổ được ghi bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm Dao nay vẫn còn được lưu truyền trong cộng đồng các nhóm Dao. Đặc biệt tranh thờ được coi là một thứ tài sản không thể thiếu được trong gia đình, dòng tộc. Người Dao sử dụng tranh thờ trong ba nghi lễ lớn là tang ma, lễ chay và lễ cấp sắc.

Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử- Vĩnh Nghiêm- Côn Sơn, Kiếp Bạc: Hành trình trở thành di sản thế giới

Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử- Vĩnh Nghiêm- Côn Sơn, Kiếp Bạc: Hành trình trở thành di sản thế giới

Cánh cung Đông Triều (thường được gọi là dãy núi Yên Tử) có chiều dài khoảng 270 km, thuộc địa phận nhiều tỉnh, thành phố phía Đông Bắc, song những địa danh được biết đến nhiều nhất, với quần thể di tích và danh thắng tiêu biểu nhất, thuộc ba tỉnh: Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương.

GÌN GIỮ CHỮ VIẾT NGƯỜI DAO

GÌN GIỮ CHỮ VIẾT NGƯỜI DAO

Ngôn ngữ của một tộc người bao gồm tiếng nói và chữ viết. Mỗi dân tộc thường có tiếng nói riêng, nhưng không phải tộc người nào cũng sáng tạo ra chữ viết riêng, nhiều tộc người mượn chữ viết của dân tộc khác để ký âm cho tiếng nói của dân tộc mình. Người Dao thuộc nhóm ngôn ngữ Mông-Dao, là một ngữ hệ gồm những ngôn ngữ nặng thanh điệu miền Nam Trung Quốc và Bắc Đông Nam Á lục địa. Như nhiều ngôn ngữ miền Nam Trung Quốc, ngôn ngữ Dao có xu hướng đơn âm tiết và mang cú pháp phân tích. Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Dao sử dụng chữ Hán để ký âm tiếng Dao, tạo thành chữ Nôm Dao.

Cuộn xuống để xem thêm bài viết