Dòng tin

Mới nhất

Những bài viết mới được cập nhật trên Bắc Ninh Today.

1,592 bài viết

MỚI NHẤT

Sưu tập bướm ở khu du lịch Khe Rỗ

Sưu tập bướm ở khu du lịch Khe Rỗ

1. Đàn bướm Ma lanh. Đây là loài bướm có số lượng đông nhất ở khu Du lịch sinh thái Khe Rỗ. Người dân vùng Tây Yên Tử đặt tên là bướm Ma lanh vì nó rất đẹp như tiên nữ, cánh mỏng, bay nhanh, cả đàn thoắt ẩn thoắt hiện theo thời tiết nắng mưa. Đến Khe Rỗ những ngày nắng đầu mùa xuân dễ dàng bắt gặp nhiều đàn bướm Ma lanh dọc đường vào rừng nguyên sinh. Cả đàn cứ bám lấy mặt đường và kỳ lạ không hiểu có gì quyến rũ chúng ở mặt đường sỏi đá ấy.2. Tiểu Bạch hồ điệp là loài bướm nhỏ, kiếm ăn theo đàn, có đàn hàng nghìn con. Ở Khe Rỗ Tiểu Bạch hồ điệp thi thoảng mới xuất hiện trong những ngày đẹp trời. Loài bướm này chậm và rạn người nên đôi khi vào rừng va cả vào nó.3. Khe Rỗ có loài Hoàng đế hồ điệp (bướm Hoàng đế) khá to, cánh giáp có màu sắc trầm ấm mà sang trọng, quý phái. “Thiên họa” cho loài bướm này gam màu đặc biệt lại điểm thêm cho mỗi cánh năm hạt ngọc bích. Đây là một loại bướm quý cần được quan tâm bảo tồn.4. Thanh Đài hồ điệp lại có ánh sắc xanh rêu quyến rũ đặc biệt. Cánh giáp trước to dầy, phần đuôi cánh trước lại điểm hai viên hồng ngọc tỏa hai ánh hào quang.Hai cánh giáp sau nhỏ nhưng hình dáng diêm dúa...thật kỳ diệu.5. Mùa xuân tình yêu của Thanh Đài hồ điệp6. Đây là loài Giáp Cam hồ điệp (bướm cánh màu cam) nhỏ bốn đốm mắt rất hiền7. Và đây là những nàng tiên nâu có giáp cánh lớn như hình cánh buồm.Đẹp nhưng hay gặp ở bãi rác ven đường vào khu rừng sinh thái nguyên sinh Khe Rỗ.8. Thiên Đường hồ điệp (bướm Thiên Đường) cánh giáp dày màu đen tuyền điểm trắng. Khi đậu hay ngẩng cao đầu, đuôi cánh sau dài rất mĩ miều.9. Hổ Văn hồ điệp (bướm Hổ vằn) cũng xuất hiện nhiều ở khu du lịch sinh thái Khe Rỗ.10. Bạch Phàm hồ điệp (bướm cánh buồm trắng) hay lởn vởn baybờ ven suối và hay đậu trên các đám rêu xanh hình như để nó hút tinh chất từ những đám rêu phủ trên dày trên đá thay cho mật hoa.11. Một con Thiên Phượng hồ điệp lạc bầy…12. Ở Khe Rỗ lại có loài bướm bé tí chỉ nhỉnh hơn cái cúc áo mà cánh mỏng tang.Loài bướm này connào cũng đơn độc lại chậm và hiền rất dễ bắt.13. Tam thể hồ điệp (Bướm ba màu) ở Khe Rỗ cũng rất quyến rũ. Loài bướm này cánh dày và khỏe, bay nhanh nên khó mà chao được nó.14. Và đây là đôi Hoàng hồ điệp e ấp bên vách đá15. Ở Khe Rỗ, hoa rừng cũng muốn hóa thân thành bướm trắng.Nguyễn Văn Phong

Du lịch khuôn thần với công tác bảo tồn di sản văn hóa

Du lịch khuôn thần với công tác bảo tồn di sản văn hóa

Từ những năm 1995 huyện đã tổ chức Lễ khai trương khu du lịch Khuôn Thần và mở các hội hát Sloong hao, Sli, Lượn nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, nên tiềm năng vẫn còn bỏ ngỏ. Ước muốn của Đảng Bộ và nhân dân các dân tộc trong khu vực lòng hồ Khuôn Thần và nhân dân trong huyện có được một điểm du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản văn hoá là một nhu cầu chính đáng rất cần được sự quan tâm. Vấn đề ở chỗ, ai đầu tư nhưng phải đảm bảo những hạng mục công trình cơ bản, thiết yếu của một vùng du lịch không chỉ như nhiều nơi khác mà Khuôn Thần cần phải đặt ra những hạng mục công trình mang đậm bản sắc văn hoá, bảo tồn di sản Văn hoá dân tộc, trong đó sẽ chú trọng một số nội dung bảo tồn văn hóa vật thể và đặc biệt là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể như xây dựng nhà truyền thống, trưng bày, bảo tồn các vật thể văn hoá của các dân tộc vùng Đông Bắc, trong đó mang đậm bản sắc 8 dân tộc Lục Ngạn. Bảo tồn các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc của các dân tộc, phục hồi các lễ hội văn hoá truyền thống: Hội Xuống đồng, hội cầu mùa, hội hàng phe, lễ cưới, hỏi; Sưu tầm,ghi âm, phỏng dịch, in thành sách, đĩa CD- VCD để lưu giữ, và phát hành các ấn phẩm văn hoá (vật thể hoá văn hoá phi vật thể) cho bảo tàng và phục vụ khách du lịch. Tổ chức các CLB hát dân ca, dân tộc: truyền dạy cho lớp trẻ, may mặc trang phục truyền thống để bảo tồn và phục vụ khách du lịch nghiên cứu, thưởng thức các lối hát truyền thống.Khôi phục các làng nghề truyền thống: Dệt vải, đan sung, may trang phục dân tộc. Xây dựng “Làng Văn hoá dân tộc” và “Cộng đồng các dân tộc” “du lịch cộng đồng” để là mẫu hình tăng cường phong trào “ TDĐKXDĐSVH ” và là nơi thăm quan du lịch, “Xã hội hoá” công tác du lịch.Các lò sản xuất men rượu, nấu rượu, các món ẩm thực dân tộc: lợn quay, khau nhục, nhộng ong, chả, xôi trứng kiến…các loại bánh: bánh tày, bánh gio, bánh vắt vai… Khôi phục đền thờ tướng quân Hồ Công Trạc ( người có công phò Vua Trần, gĩư nước, được phong Thần và được vua Trần cho phép xây dựng đền thờ Ông nên có tên là Quân Thần) tại làng Khuôn Thần và lễ hội truyền thống, hội hát dân ca dân tộc Nùng tại đây… Xây dựng tour thăm quan du lịch: Di tích lịch sử văn hoá đền thờ Hồ Công Trạc, đình Cống( nơi chi bộ Đảng xã Kiên Lao đại hội lần thứ nhất) địa danh Lán Cháy (đã xây dựng cột mốc lịch sử năm 2006 nơi đại hội đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ nhất tháng 5- 1951). Khu căn cứ chống Pháp, nơi đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về thăm tại xã Kiên Lao…phối kết với Đền Hả (xã Hồng Giang), chùa Am Vãi (xã Nam Dương), đền chùa Khánh Vân (Thị Trấn Chũ), khu di tích Cầu Từ và các điểm khai quật tại Cầu Từ( xã Phượng Sơn) đã phát lộ dấu tích thời Lý tương tự như Hoàng thành Thăng Long. Đó là những điểm nhấn về văn hoá không thể thiếu nếu như không muốn nói là hồn cốt của khu du lịch sinh thái Khuôn Thần được gắn với văn hoá tâm linh, văn hoá vật thể và phi vật thể; vừa bảo tồn, phát huy, phát triển đúng quan điểm, đường lối của Đảng và phát triển vững bền. Bá Đạt

Trứng kiến- Thời trân miền Tây Yên Tử

Trứng kiến- Thời trân miền Tây Yên Tử

Cuối xuân vào mùa đánh kiến…Quý xuân là tháng cuối mùa xuân. Cứ năm nào nắng sớm thì vào cữ cuối tháng Hai âm lịch, nắng muộn thì sang đầu tháng Ba là đến mùa đánh trứng kiến. Giống kiến nâu làm tổ cả năm nhưng đầu xuân mới sinh đẻ. Ấu trùng kiến đẻ ra nhưng phải vào thời tiết có nắng xuân mới phát triển. Cho nên, muốn đánh kiến được nhiều trứng phải xem thời tiết đầu xuân từng năm mà định liệu. Đánh đúng vụ là đánh vào lúc tiết trời nắng đẹp, khô ráo… trứng kiến vừa nở căng đầy người ta gọi là lúc kiến mẩy. Đánh sớm quá ấu trùng chưa phát triển thành trứng vẫn gắn chặt vào tổ, gõ không ra hoặc ra rất ít gọi là bị kê. Nếu đánh muộn, trứng kiến đã nở thành con, trứng ít, ăn không ngon và không khéo bị đốt oan, phí công. Ở vùng rừng núi Mai Sưu, Đan Hội (Lục Nam), Kiên Lao, Kiên Thành, Nam Dương, Mỹ An (Lục Ngạn)… xưa có nhiều người rất thạo nghề đánh trứng kiến. Vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước, vào cữ tháng Ba, bữa cơm nhà tôi ít khi thiếu bát trứng kiến trên mâm. Mùa trứng kiến, ngoài những buổi học, tôi cứ lễ mễ theo người lớn hành nghề. Đồ nghề đánh kiến tuy đơn giản nhưng cũng lích kích lắm thứ nào là câu liêm, dao quắm, rá, rồi khăn mặt…Đi ở đâu thì dễ chứ đi luồn trong rừng với bằng ấy thứ thì vướng víu, bận rộn khó mà đánh được nhiều trứng kiến. Thầy tôi là người thạo nghề đánh kiến, nếu giờ cụ còn sống có thể phong cụ là nghệ nhân của thứ nghề độc đáo này. Nhìn cách chuẩn bị, sắp xếp mấy dụng cụ đánh kiến của thầy tôi là biết ngay tài nghệ truyền đời. Trước tiên là việc chuẩn bị rá đánh kiến. Là cái rá to thường dùng nhưng phải bổ sung thêm phụ kiện là cái ngọn tre có ba chạc. Muốn có chạc tốt phải chọn ngọn tre già, khô, thẳng (nhẵn bóng càng tốt) có ba cái tay đều nhau rồi dùng lạt buộc miệng rá vào các tay tre chắc chắn là được. Dao quắm mài sắc cho vào phẻn rồi buộc vào thắt lưng gọn gàng. Gọi là câu liêm nhưng chỉ là cái liềm thường dùng để gặt lúa rồi buộc chắc vào đoạn tre dùng dài để khi cần kéo tổ kiến từ trên cao cho đỡ phải leo trèo và tránh bị kiến đốt.Đến mỗi khoảnh rừng, thày tôi trèo lên một cây cao nhất ngắm nghía phát hiện ra ngay những tổ kiến từ xa. Tổ nào mẩy thì lấy câu liêm kéo vít, đốn cành kéo tổ về một chỗ thoáng rộng rồi dùng dao sắc vạc dần từng miếng tổ rồi lấy sống dao gõ, từ nhẹ đến mạnh dần vào cành cây để trứng rơi vào rá. Khi vạc tổ kiến không được vạc tham từng miếng to mà vạc dần, gõ dần trứng mới róc. Tổ nào nhìn có màu đen bạc, thớ tổ gờ to, cành cây hơi trĩu, khi chặt cành nâng lên thấy nặng tay thì y như rằng tổ kiến mẩy. Tổ nào trông đen xì, xốp …thì ít trứng. Nhìn màu tổ và vỏ tổ kiến để quyết định có nên chặt đốn hay khỏi mất công mà để gây dành đến mùa sau. Giống kiến nâu tuy nhỏ con nhưng ranh ma lắm, cứ thấy động cành là cả đàn bò ra khỏi tổ. Chúng bám trên cành, trên lá cây nên người đứng dưới cứ động nhẹ là hàng chục hàng trăm con rơi vào đầu và ra sức cắn/đốt. Hơn nữa, khi tổ bị động mạnh là chúng tập trung ăn trứng, cho nên đã chặt đốn cành phải vạc, gõ cho nhanh, cho hiệu quả để tránh bị đốt và lũ kiến không kịp ăn trứng.Đánh kiến kiêng kỵ nhất là trời râm không có nắng, nếu gặp trời mưa thì chỉ có nước về không. Vì trời mưa không luồn rừng được, không kiếm được mùn đất khô thì chỉ làm mồi cho kiến đốt. Hơn nữa, tổ kiến bị ướt gõ không ra trứng rất lãng phí.Ngày chưa thoát ly đi công tác, chẳng mùa đánh kiến nào không làm tôi háo hức, mong chờ. Tôi đi theo thày tôi để phụ giúp việc vác rá, tìm tổ kiến và quan trọng hơn là việc thỉnh thoảng phải tìm kiếm ít mùn giun khô bóp vụn thành bụi mịn để xoa lên cán rá bẫy bọn kiến. Vì khi gõ tổ kiến, cả kiến bố, kiến mẹ và trứng kiến đều rơi vào rá, cho nên kiến già cứ bò lên miệng rá hàng đàn. Muốn không để kiến bò theo chạc cây vào đốt thì lấy mùn giun khô xoa lên cán rá để chúng bò đến đấy là trơn trượt ngã cái xoạch. Tuy nhiên, để phòng những con cố tình qua bẫy thì cứ vài phút lại lấy sống dao gõ vào cán rá cho chúng rơi rụng xuống rừng là khỏi bị đốt. Hơn nữa, cách gõ như vậy cũng để đàn kiến phát tán, tiếp tục phát triển mà đánh vào những vụ sau.Khi đã được lưng rá trứng kiến đem về nhà phải tiếp tục vài công đoạn nữa mới có thể đem trứng kiến chế biến thành món ăn ngon.Đầu tiên là việc sàng sảy cho hết lá cây và tạp chất từ tổ kiến. Sàng sảy kiến phải nhẹ nhàng để tránh vỡ trứng, nát trứng. Cái khó hơn là những con kiến già không chịu dời trứng thì phải lấy khăn mặt khô trao lướt qua lại nhiều lần trên mặt lia cho chúng bám vào rồi đem chỗ khác rũ sạch…Cứ thế nhiều lần, kiến già sẽ hết. Cẩn thận hơn có thể bỏ trứng kiến vào chậu nước sạch, ấm đãi thêm lần nữa để kiến già và tạp chất nổi lên, hớt đi là có mẻ trứng kiến an toàn vệ sinh thực phẩm tuyệt đối.Những món ngon từ trứng kiến…Trứng kiến là thức ăn ngon, bổ dưỡng, Đông y cho rằng trứng kiến tính thanh ngọt có tác dụng bồi bổ cơ thể. Là món ăn dân dã nên các món ăn chế biến từ trứng kiến không cầu kỳ. Đến các địa phương thuộc huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động tỉnh Bắc Giang thường được thưởng thức các món thông thường như: Trứng kiến hấp hai lửa (làm thức ăn với cơm hoặc xôi), bánh kiến, xôi trứng kiến. Có lần đến vùng Kiên Lao, Kiên Thành (Lục Ngạn) chúng tôi còn được bạn bè cho thưởng thức món trứng kiến sống ăn cùng bánh đa, nhắm rượu cũng rất thú vị. Gần đây nhiều người dùng trứng kiến để ngâm rượu nghe nói có tác dụng bổ thận tráng dương không kém gì rượu tắc kè hoa ngâm ba kích hay cá ngựa.Trứng kiến hai lửa: Trứng kiến đã làm sạch, bỏ vào nồi, ướp ít bột canh (có người thêm chút nước lã, mì chính), mắm ngon đảo đều, để chừng mươi phút cho ngấm gia vị. Hành khô dập kỹ, băm nhỏ, phi tái vừa thơm. Gia vị đã ngấm, đặt nồi trứng kiến lên bếp chưng, rải hành phi lên trên đậy vung kín. Chờ xôi mươi phút cho chín tới, đảo đều bắc ra. Để trứng qua đêm, sáng hôm sau đặt lại trên bếp cho xôi vài phút, để nguội hẳn mới được ăn. Trứng kiến khi chưng nóng ra nước xẹp lép, để sáng sau hút nước căng mọng, béo ngậy. Có thể ăn với cơm hay xôi trắng đều rất đặc biệt.Xôi trứng kiến cách thủy: Chuẩn bị như đồ xôi gà cách thủy, xôi dưới, trứng kiến và gia vị bên trên. Xôi chín, trứng chín để nguội kỹ rồi đảo đều. Xôi thấm mùi vị trứng kiến, trứng kiến nguội nở căng đầy. Ăn xôi béo và thơm lắm.Bánh trứng kiến: Trứng kiến đảo đều chín tới bắc ra để nguội. Bột gạo nếp, tẻ mịn tỷ lệ 1/3. Đem bột, trứng kiến trộn đều với nước dừa, gia vị cho sền sệt rồi hấp chín (có người trộn thêm bột lòng đỏ trứng gà mới hấp rồi đem rán cho thơm). Bánh kiến thường to bằng chiếc đĩa, khi ăn xắt thành miếng nhỏ vuông vuông, ăn cùng vài thứ rau thơm sẽ thú vị hơn. Món này không nên lạm dùng nhiều trứng kiến ăn sẽ ngấy, mau chán.Khi đọc, dịch một số bản thần tích, sự lệ ở một số làng /xã thuộc tổng Trù Hựu, Mỹ Nương (huyện Bảo Lộc, Lục Ngạn xưa) thấy ghi rành rành, vào các dịp lễ tế Thành hoàng phải có món xôi hoặc bánh trứng kiến. Để có bánh thờ, Cai đám làng Sú (An Phú), xã Mỹ An phải cử người lên núi Cống đánh trứng kiến đem về làm bánh tế thần. Thế mới biết từ xưa trứng kiến đã là món ngon trân quý, đâu phải món ăn dân dã quê mùa.Những năm gần đây, cũng dịp cuối xuân, du khách trẩy hội vùng Kiên Lao, Kiên Thành, Nam Dương, Tân Mộc… hay tham dự Ngày hội văn hóa các dân tộc huyện Lục Ngạn, trong khi giới thiệu các món ẩm thực chân quý của địa phương, thấy không thể thiếu các món ngon như bánh nếp, xôi nếp chế biến từ trứng kiến./. Nguyễn Văn Phong

Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Xôi ngũ sắc “ gói cả trời đất trong tay”: ngũ phúc lâm môn.Trong phiên chợ vùng cao phía Bắc, tổ chức tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam xuân 2013, tại gian trưng bày của tỉnh Bắc Giang không chỉ có mật ong vải thiều; mì Chũ; bánh đa Kế; nấm lim xanh Đèo Gia; mây tre đan Tăng Tiến mà đặc sản xôi trứng kiến của đồng bào Cao Lan ở Đèo Gia đã thu hút hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước, trong đó có nhiều phóng viên của các báo, tạp chí và truyền hình tới thưởng lãm, bởi sự độc đáo, đặc sắc của món ẩm thực đặc biệt này. Sự độc đáo của sản phẩm bao gồm cả nguyên liệu chế tác, sự cẩn trọng, khéo léo của người thực hiện. Về nguyên liệu, phải tìm và lấy được lá cây thau từ tháng 7 đến tháng 10, khi lá vừa đủ độ già. Lá cây thau được giã lọc lấy nước sẽ được màu tím. Màu xanh được lấy từ lá cây gừng; màu đỏ được lấy từ lá cây cẩm hồng hoắc cẩm tía; còn màu vàng được lấy từ củ nghệ hoặc quả dành dành( cũng giống như màu vàng của tranh Đông Hồ). Đối với từng loại lá, quả, củ đều được nghiền kỹ, lọc lấy nước đặc để dùng. Riêng màu trắng là của chính thứ gạo nếp thơm của vựa nếp Phì Điền. Từng phần gạo được ngâm riêng với từng loại nước màu cho ngấm, trong khoảng 3 canh giờ ( khoảng 6-7 tiếng) thì cho vào chõ để đồ xôi, Khi xôi chín được cho vào khuôn đã có sẵn. Xúc xôi vào từng ngăn ô trong khuôn với 5 màu riêng biệt. 5 màu thường là: Đỏ, đen, trắng, vàng, xanh ( hoặc tím). Những màu tượng trưng cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Dân gian cho rằng, thưởng thức món xôi ngũ sắc là ngũ phúc lâm môn. Nếu khuôn bánh to bằng chiếc mâm thì có thể trang trí các hình và chữ nổi, bằng chữ Hán hoặc chữ Việt. Du khách một lần được thưởng lãm và thưởng thức món xôi ngũ sắc của đồng bào Cao Lan vùng Tây Yên Tử thì mãi nhớ. Bánh vắt vai, “ bánh thương, bánh nhớ”

Gỏi cá chép Nội Hoàng- Đặc sản một vùng quê

Gỏi cá chép Nội Hoàng- Đặc sản một vùng quê

Mỗi món ăn tuy giản dị, mang đậm chất quê luôn là hình ảnh khắc sâu trong tâm trí của mỗi con ngư¬ời Việt Nam khi đi xa xứ nhớ về quê hương.Bắc giang là một tỉnh nằm ở phía Bắc tổ quốc với nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc đều có những món ăn truyền thống và mỗi món ăn đều được chế biến theo phong cách riêng của dân tộc mình, điều đó tạo ra cho ẩm thực Bắc Giang vô cùng phong phú, đa dạng hấp. Ngày nay, du khách ngoài việc thăm quan thưởng thức cảnh ngoạn hoặc vui chơi giải trí thì được thưởng thức những món ăn sản vật đặc sắc của địa phương thường không thể bỉ lỡ. Đó là những món ăn mang đậm tính vùng miền và được chế biến phải đúng theo phương thức cổ truyền riêng có.Xã Nội Hoàng thuộc huyện Yên Dũng, nằm ở phía Nam của tỉnh Bắc Giang, bên con sông Thương đôi dòng trong đục. Nơi đây, được thiên nhiên ban tặng các điều kiện tự nhiên hệ thống sông ngòi, hồ ao rộng khắp, những cánh đồng lúa trải dài uốn lượn, men theo dãy núi Phượng Hoàng sừng sững hiên ngang, sống khép mình bên dãy núi linh thiêng. Người dân nơi đây, luôn có truyền thống giầu lòng mến khách, sự hiếu khách được chủ nhà thể hiện qua những món ăn truyền thống của vùng, miền ven sông, trong đó đặc biệt nhất phải kể đến một món ăn “ Gỏi cá Chép Nội Hoàng”. Món ăn tuy giản dị nhưng được chế biến hết sức công phu, cầu kỳ. Ai đã một lần trong đời được thưởng thức món ăn chắc hẳn đều ấn tượng bởi vị bùi, dòn, ngọt mang đậm chất quê của món ăn này. Nguyên liệu để chế biến món này hết sức đơn giản nhưng quy trình chế biến thì vô cùng công phu, phức tạp. Việc đầu tiên là phải chọn lựa cá, cá làm gỏi phải là loại cá chép sông hoặc ao đầm không nuôi thả vì những loài cá sống ở môi truờng tự nhiên rộng lớn bao giờ thịt cũng săn chắc, trọng lượng trung bình từ 1 đến 1,5 kg là vừa vì cá to xương sẽ cứng, thịt dai, còn nhỏ quá thì thịt sẽ mủn, nhũn không làm được. Sau đó, làm sạch, đánh vẩy dùng dao thật sắc lạng lấy hai miếng thịt thăn ở bên mình cá. Bước tiếp theo cho miếng thăn cá vào bát thính gạo nếp đã được rang kỹ vàng sộm để ướp, thính khô sẽ hút hết nước nhớt và để lại vị thơm trên từng thớ thịt, xong xuôi thịt cá đem ra thái thành từng lát vừa phải trộn đều với nước gừng tươi ép và giềng tươi thái nhỏ, cho thêm chút lá chanh và muối trắng, tiếp tục trộn đều rồi lại ướp thêm cùng với thính. Bước tiếp theo quy trình là làm món lòng xào, món ăn kèm với cá, đây là món gia vị chính làm lên sự thành công của món gỏi cá, nguyên liệu để làm món này phải là cá trê ta, thịt cá lọc thành miếng thái nhỏ, xương cá trê và xương cá chép đã lọc mang ra giã nhỏ lọc bỏ hết bã, sau đó cho vào ninh với thịt cá trê bao giờ sánh đặc là được. Bước cuối cùng của quy trình là đi hái lá, lá ở đây là lá thuốc nam, ở làng quê Việt Nam cây thuốc bao giờ cũng luôn có sẵn, trong các vườn cây ăn trái, lá để ăn kèm với cá, đây mới là cốt lõi để kết lên những giá trị tinh hoa đặc sắc của món ăn này. Lá thuốc bao gồm lá sắn thuyền, võng cách, vàng má, nõn chè, cúc tần, búp ổi, đinh lăng, lá và quả sung, mi chuối, chuối xanh... Khi tất cả công việc hoàn thành. Cá được trình bầy ra đĩa, Lòng xào múc ra bát, lá thuốc để vào kế bên, trong mâm, thêm bát nước chấm chanh ớt, tùy theo khẩu vị người ăn. Khi ăn ta có thể gói lá thuốc cuốn cùng gỏi cá, lòng xào hoặc có thể lấy lá bánh đa nem để gói cũng được...Tất cả hòa quện, pha trộn tạo lên một hương vị chua, cay, dòn, ngọt, đậm, bùi nơi đầu lưỡi. Thưởng thức Gỏi cá không đơn thuần chỉ là một món ăn ngon, bổ, mà món ăn này còn chứa đựng bao hàm nhiều ý nghĩa sâu xa, nó như hội tụ đầy đủ những hương vị tinh ngon nhất của đất, của trời ban tặng cho người dân nơi đây. Đĩa gỏi cá được bầy lên chiếc mâm ăn cơm bằng gỗ cùng với chai rượu trắng nút lá chuối tỏa men cay nồng, cùng với những người bạn chi kỷ hàn huyên tâm sự, thì quả là vô cùng thú vị. Trong cuộc sống hiện đại, bên cạnh nhưng nỗi lo toan, bộn bề công việc, có gì hơn khi được tận hưởng những giây phút thư giãn, được đắm mình trong một không gian yên bình, được tận hưởng không khí của một vùng quê đầm ấm, bên dòng sông êm đềm với những làn điệu dân ca, đằm thắm đắm say lòng người, được thưởng thức những món ăn truyền thống mà ông cha ta để lại từ ngàn xưa. Những món ăn tuy đơn sơ mộc mạc, nhưng nó đã tạo nên dáng hình của làng quê Việt Nam. Dù bất cứ ai đã từng được sống trong những khoảng khắc như vậy, chắc hẳn sẽ luôn có cảm nhận càng thêm mến yêu cuộc sống, con người và làng quê Việt dấu yêu. Để duy trì tồn tại và phát triển những sản vật là đặc sản truyền thống của địa phương, mỗi con người chúng ta cần phải biết tôn vinh, gìn giữ và phát huy những giá trị của nó, đó cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của con người Việt Nam cho thế hệ mai sau.Thùy Dương

Chợ tết và món ngon Chả cá Bố Hạ

Chợ tết và món ngon Chả cá Bố Hạ

Ảnh sưu tầmChả cá Bố Hạ nổi tiếng, gây ấn tượng cho khách thập phương là do nguyên liệu và cách chế biến tài khéo của người đầu bếp. Cá là phải cá nheo, cá trê, cá ngạnh, cá chiên hay cá lăng… loại cá da trơn, không vảy, sống ở vùng nước sạch sông Thương, sông Sỏi. Cá nhiều nhớt nên phải tuốt sạch bằng tro bếp hay nước vôi trong, lau bằng giấy bản (giấy dó) cho da khô, hết nhớt mổ bỏ ruột, lọc khéo thành bản to, bỏ xương rồi thái thành miếng bằng hai đốt ngón tay, ướp với nước nghệ, riềng, mẻ, hạt tiêu, mỡ nước, không dùng tương mà ướp bằng nước mắm cốt từ Quảng Ninh, Hải Phòng đưa lên. Sau khi cá ngấm và thẩm thấu các loại gia vị mới dùng chiếc xiên làm bằng tre tươi, loại tre bánh tẻ có cả cật để xiên rồi nướng trên bếp than hoa, quạt đều tay nhẹ nhàng để bếp than luôn hồng, lật từng xiên trở đều hai mặt đến khi xiên cá vàng rộm, thơm lừng. Bày cá ra đĩa cũng là một nghệ thuật, cứ một lượt chả cá lại rắc một lượt hành hoa, thì là, sau 2 - 3 lượt rưới lên mặt 2 đến 3 thìa mỡ đun sôi để vừa giữ được độ nóng, vừa tăng thêm vị thơm, béo ngậy. Chả cá Bố Hạ được ăn kèm với các loại rau thơm, rau húng sẽ để lại những dư vị đáng nhớ cho người thưởng thức.Ngày nay, thị Trấn Bố Hạ vẫn là một nơi buôn bán sầm uất của vùng, và Chả cá Bố Hạ ai đã một lần thưởng thức sẽ không bao giờ quên món ẩm thực thơm ngon của vùng rừng này nhất là vào mùa xuân, mùa lễ hội và mỗi dịp chợ phiên. Ngô Văn Trụ

Bảo Tàng tỉnh Bắc Giang, điểm đến tham quan và nghiên cứu

Bảo Tàng tỉnh Bắc Giang, điểm đến tham quan và nghiên cứu

Khi đến với Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tham quan, nghiên cứu, học tập các thế hệ sinh viên các trường Đại học đều có cảm nhận rằng: Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, qui mô diện tích tuy không lớn nhưng khang trang, đẹp đẽ và có đủ các nội dung để học sinh, sinh viên tham quan, nghiên cứu và học tập rất bổ ích. Còn với khách phương xa ngoài tỉnh lại phát biểu rằng: Chúng tôi về thăm Bắc Giang, trước khi đi đến các điểm tham quan du lịch hay các miền quê, đều mong muốn thăm Bảo tàng tỉnh trước để có cái nhìn tổng quan về miền đất Bắc Giang và được cảm nhận ban đầu cho cuộc thâm nhập thực tế…Bảo tàng tỉnh Bắc Giang được thành lập từ năm 1988, đến năm 2000, sau ngày chia tách tỉnh, UBND tỉnh Bắc Giang đã đầu tư hoàn thành công trình nhà Bảo tàng và cho mở cửa phục vụ khách tham quan các phần trưng bày và nghiên cứu các vấn đề về lịch sử - văn hoá Bắc Giang theo nhu cầu học tập. Trong nội dung trưng bày, tuy còn phải từng bước hoàn thiện, nâng cao nhưng đã phản ánh được những đặc trưng lịch sử, văn hoá của tỉnh, cụ thể với hai khu vực trưng bày: Trưng bày trong nhà Bảo tàng và trưng bày ngoài trời tại khuôn viên của Bảo tàng.

Cuộn xuống để xem thêm bài viết