Dòng tin

Mới nhất

Những bài viết mới được cập nhật trên Bắc Ninh Today.

1,594 bài viết
Bảo Tàng tỉnh Bắc Giang, điểm đến tham quan và nghiên cứu

Bảo Tàng tỉnh Bắc Giang, điểm đến tham quan và nghiên cứu

Khi đến với Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tham quan, nghiên cứu, học tập các thế hệ sinh viên các trường Đại học đều có cảm nhận rằng: Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, qui mô diện tích tuy không lớn nhưng khang trang, đẹp đẽ và có đủ các nội dung để học sinh, sinh viên tham quan, nghiên cứu và học tập rất bổ ích. Còn với khách phương xa ngoài tỉnh lại phát biểu rằng: Chúng tôi về thăm Bắc Giang, trước khi đi đến các điểm tham quan du lịch hay các miền quê, đều mong muốn thăm Bảo tàng tỉnh trước để có cái nhìn tổng quan về miền đất Bắc Giang và được cảm nhận ban đầu cho cuộc thâm nhập thực tế…Bảo tàng tỉnh Bắc Giang được thành lập từ năm 1988, đến năm 2000, sau ngày chia tách tỉnh, UBND tỉnh Bắc Giang đã đầu tư hoàn thành công trình nhà Bảo tàng và cho mở cửa phục vụ khách tham quan các phần trưng bày và nghiên cứu các vấn đề về lịch sử - văn hoá Bắc Giang theo nhu cầu học tập. Trong nội dung trưng bày, tuy còn phải từng bước hoàn thiện, nâng cao nhưng đã phản ánh được những đặc trưng lịch sử, văn hoá của tỉnh, cụ thể với hai khu vực trưng bày: Trưng bày trong nhà Bảo tàng và trưng bày ngoài trời tại khuôn viên của Bảo tàng.

MỚI NHẤT

Những điểm đến đẹp ở Bắc Giang

Những điểm đến đẹp ở Bắc Giang

Xương Giang- ngôi thành cổ do quân Minh xây dựng vào thế kỷ 15 - là điểm đến đầu tiên của những người đam mê lịch sử hay thích tìm tòi, khám phá kiến trúc.

Khám phá 8 di sản thế giới tại Việt Nam

Khám phá 8 di sản thế giới tại Việt Nam

Tính đến năm 2014, Việt Nam đã được UNESCO công nhận 18 di sản thế giới, trong đó có 2 di sản thiên nhiên (vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng), 5 di sản văn hóa (khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội, thành nhà Hồ, quần thể di tích cố đô Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn), 1 di sản hỗn hợp (quần thể danh thắng Tràng An) và các di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu.

Nhìn nhận về sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam

Nhìn nhận về sự phát triển của ngành Du lịch Việt Nam

Một số ý kiến cho rằng tỷ lệ khách quay trở lại cho thấy tính cạnh tranh của du lịch. Tuy nhiên, do du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nên tính cạnh tranh của du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Dưới góc độ kinh tế du lịch, tỷ lệ khách quay trở lại không phải là chỉ tiêu nghiên cứu phục vụ xây dựng chính sách phát triển ngành. Hiệu quả của ngành Du lịch thường được đánh giá qua các chỉ số chính như: tốc độ tăng trưởng khách, độ dài lưu trú bình quân của khách, chi tiêu bình quân của khách, đóng góp của du lịch vào cơ cấu GDP.

Quy hoạch rừng cảnh quan Suối Mỡ- Động lực cho phát triển du lịch

Quy hoạch rừng cảnh quan Suối Mỡ- Động lực cho phát triển du lịch

Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ là nơi hội tụ hai yếu tố: Tâm linh và sinh thái. Về tâm linh với hệ thống đền, chùa bao gồm: Đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Trần, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc... và một số dấu tích còn lưu lại khác. Năm 1988, khu du tích lịch sử đền Suối Mỡ đã được Bộ văn hóa Thông tin nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch công nhận là khu di tích lịch sử cấp quốc gia. Về sinh thái Suối Mỡ là danh lam thắng cảnh nằm trải dài men theo sườn núi với hệ thống núi rừng trùng điệp, nhiều thác nước lớn nhỏ ngày đêm tuôn chảy tung bọt trắng xóa, nhiều bồn tắm thiên nhiên kỳ thú cùng với thảm thực vật và nhiều loài động vật phong phú đã thu hút không ít du khách xa gần.Từ lợi thế đó, Suối Mỡ đã được xác định là điểm nhấn quan trọng trong phát triển du lịch Bắc Giang và đã đầu tư dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Suối Mỡ năm 2002 với tổng kinh phí 14,6 tỷ đồng. Các hạng mục đầu tư gồm đường giao thông, đường ven suối, hệ thống lưới điện và thủy lợi. Năm 2009 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đầu tư xây dựng công trình Hồ Suối Mỡ với tổng kinh phí 120 tỷ đồng tạo một diện mạo mới cho Suối Mỡ. Nhằm mở ra cơ hội cho công tác bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ngày 30/11/2011 UBND tỉnh Bắc Giang đã có Quyết định số 1724/QĐ-UBND về việc thành lập khu rừng Bảo vệ cảnh quan Suối Mỡ có tổng diện tích là 1.207,1 ha. Tổng vốn đầu tư của dự án là hơn 199 tỷ đồng. Trong đó ưu tiên cho việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa khu vực đền Hạ, đền Trung và đền Thượng; đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; xây dựng các trạm bảo vệ, chòi quan sát, đường tuần tra, trạm dừng chân, vườn ươm, nhà trung tâm du khách; đầu tư phát triển đường giao thông, bến bãi, khu lễ hội, khách sạn, nhà nghỉ, các khu vui chơi giải trí; gây nuôi động vật hoang dã; tổ chức đào tạo cán bộ, thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học. Với quy chế của rừng bảo vệ cảnh quan được trích tỷ lệ từ 15-20% quỹ đất cho việc xây dựng các công trình phục vụ cho du lịch. Hiện nay diện tích rừng cảnh quan đã được bàn giao cho Ban quản lý khu du lịch sinh thái Suối Mỡ quản lý và sử dụng. Các hạng mục cơ sở hạ tầng phát triển, đường giao thông nội bộ giai đoạn 2 cơ bản đã hoàn thành, công trình hồ Suối Mỡ đã được đưa vào sử dụng và phát huy tốt hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nghiên cứu, lập quy hoạch đầu tư phát triển sản phẩm du lịch hấp dẫn trong tour du lịch văn hóa tâm linh Tây Yên Tử.Khu du lịch sinh thái Suối Mỡ là điểm du lịch có vị trí địa lý gần trung tâm thành phố, hệ thống giao thông tới điểm du lịch thuận tiện, hệ thống điện sinh hoạt, điện thoại, nước sinh hoạt đều đã được đáp ứng. Hàng năm huyện Lục Nam đã dành ngân sách tôn tạo các di tích văn hoá lịch sử, bảo tồn các giá trị văn hoá đặc sắc của địa phương; quy hoạch, quản lý danh lam thắng cảnh vốn có; đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng để cung cấp nhiều lâm thổ sản quý, tạo môi trường sinh thái và môi trường xã hội phục vụ phát triển du lịch, đồng thời có chủ trương khuyến khích, mời gọi, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư nghiên cứu, khảo sát, lập dự án đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Thời gian qua, các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn đã không ngừng tăng nhanh về quy mô, tốc độ phát triển, góp phần tăng thu nhập, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn huyện. Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế, đến nay các sản phẩm du lịch vẫn chưa đa dạng, phong phú, các tour tuyến còn nghèo nàn, đơn điệu. Việc đầu tư cho các sản phẩm du lịch còn hạn chế, chất lượng dịch vụ chưa cao, chưa khai thác, phát huy được thế mạnh đặc trưng độc đáo vốn có của khu du lịch... Với thế mạnh về Du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, Suối Mỡ có nhiều thắng cảnh tự nhiên đẹp, nhiều vườn đồi đang phát triển mạnh mẽ là thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái; có những bản làng người dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chí sinh sống, mỗi dân tộc đều có những bản sắc văn hoá riêng thể hiện qua tiếng nói, trang phục truyền thống, nếp sinh hoạt, văn hoá ẩm thực, lời ca tiếng hát và cách thức sản xuất một số nghề thủ công đã tạo nên những giá trị văn hoá đặc trưng của người dân bản địa. Môi trường sinh thái và văn hoá bản địa là hai điều kiện cơ bản tạo nên những sản phẩm du lịch đặc trưng cho Suối Mỡ. Để công tác xúc tiến du lịch, đầu tư phát triển sản phẩm du lịch trong tour du lịch văn hóa tâm linh Tây Yên Tử trước hết cần tăng cường nghiên cứu thị trường, xác định rõ nhu cầu, sở thích của thị trường để định hướng đúng sản phẩm du lịch. Cùng với đó, xác định rõ và thống nhất giá trị thương hiệu du lịch Bắc Giang, Thái Nguyên, Hải Dương và Quảng Ninh với các dòng sản phẩm và sản phẩm đặc trưng gắn với nhu cầu và sở thích của du khách. TTXTDL

Hành hương về Tây Yên Tử

Hành hương về Tây Yên Tử

Xuyên qua những con đường mòn ẩn hiện trong rừng trúc, vượt qua vách núi cheoleo, những ngôi chùa, am, tháp... gần 700 năm tuổi và dấu tích còn lại của nó hiệnra trong mây mù bạt ngàn của rừng núi Tây Yên Tử.

Phú Quốc lọt top những địa điểm du lịch mùa Đông tuyệt vời nhất thế giới

Phú Quốc lọt top những địa điểm du lịch mùa Đông tuyệt vời nhất thế giới

Tạp chí danh tiếng thế giới National Geographic (Mỹ) đã bình chọn Phú Quốc là 1 trong 15 điểm du lịch mùa Đông hấp dẫn nhất năm 2014. Mới đây, các chuyên gia du lịch đến từ tạp chí danh tiếng thế giới Nationalgeographic đã đưa ra danh sách các địa điểm lý tưởng cho chuyến du lịch mùa Đông 2014. Với những hướng dẫn cụ thể về thời gian, cách thức đi lại, địa điểm nghỉ dưỡng hay những món ăn hấp dẫn, bảng danh sách trang bị cho du khách những kiến thức, hành trang tốt nhất trước khi thực hiện chuyến du lịch của mình. Và trong số 15 địa danh được trang Nationalgeographic gợi ý, Đảo Phú Quốc (Việt Nam) vinh dự được nằm trong top 3 các địa danh nên tới vào mùa Đông năm nay.Tạp chí National Geographic giới thiệu: Phú Quốc là nơi có những bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Điều khiến du khách thích thú và ấn tượng khi đến với Phú Quốc là dòng nước biển xanh ấm áp, những bài cát sâu mịn và những vùng núi hoang vu. Trang tạp chí này gợi ý, thời gian du lịch thú vị nhất khi đến Phú Quốc là từ tháng 12 tới tháng 3 với nhiệt độ trung bình từ 25 đến 27 độ C. Bên cạnh đó, du khách tới đây hãy thưởng thức các món ăn do ngư dân mới đánh bắt được dưới ánh trăng ở Chợ đêm Dinh Cậu.National Geographic gọi Phú Quốc là "Thủ đô Nước Mắm" của Việt Nam. Loại nước mắm chua ngọt của Phú Quốc là sản phẩm đầu tiên được bảo hộ theo Quy chế Bảo hộ Xuất xứ của Châu Âu (PDO) vào năm 2003.Những địa danh lý tưởng khác nằm trong danh sách những nơi lý tưởng nhất cho du ngoạn mùa đông gồm có hồ Baika (Nga); Santa Margherita Ligure (Italy); bãi biển Nosare (Costa Rica); vườn quốc gia Yellowstone (Mỹ); Masquerade Games, Pernik (Bulgaria); Gold Coast (Australia); vùng núi Caucasus (Georgia); lễ hội Mùa đông, Miami (Mỹ); Mallorca, (Tây Ban Nha); Muscat đến Salalah (Oman); liên hoan âm nhạc Sauti za Busara (Tanzania) và Quebec (Canada).

Dòng họ Thân tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng Thân tộc Việt Nam

Dòng họ Thân tỉnh Bắc Giang trong cộng đồng Thân tộc Việt Nam

Theo kế hoạch trong 2 ngày 3 – 4/12/2010, Hội đồng Thân tộc Việt Nam phối hợp với Hội khoa học Lịch sử Việt Nam long trọng tổ chức đại lễ kỷ niệm 1000 Thân tộc tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang cũng sẽ phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” từ 19 giờ 30 ngày 03/12 đến ngày 04/12, tại xã Hồng Giang huyện Lục Ngạn, nơi phát tích của dòng họ Thân.

Đặc sắc lễ hội đền Dành

Đặc sắc lễ hội đền Dành

Sáng ngày 28/2/2013, tại xã Liên Chung huyện Tân Yên đã diễn ra lễ khai mạc lễ hội đền Dành. Đến tham dự lễ hội có đồng chí Lê Ánh Dương - Chủ tịch UBND huyện Tân Yên và đại diện Sở VHTTDL Bắc Giang; đại diện các cơ quan ban ngành trên địa bàn huyện...

Khu di tích đình Vồng với lễ hội truyền thống đặc sắc

Khu di tích đình Vồng với lễ hội truyền thống đặc sắc

Song Vân là vùng đất cổ đã ghi dấu ấn vang dội trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Con người Song Vân luôn nêu cao tinh thần đoàn kết tương thân tương ái vượt qua mọi khó khăn chống lại kẻ thù xâm lược viết lên những trang sử hào hùng, chói lọi. Trong quá trình xây dựng, phát triển quê hương con người nơi đây đã gây dựng được một hệ thống di sản văn hoá phong phú mang đậm giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nói đến Song Vân phải nói đến khu di tích đình Vồng với lễ hội dân gian truyền thống điển hình của vùng đất Yên Thế - Tân Yên. Khu di tích đình Vồng gồm một quần thể di tích cổ với đầy đủ các loại hình như: đình Vồng, chùa Vồng, đền Vồng, nghè Vồng, ngòi Vồng và cầu Vồng. Đình Vồng xưa thuộc xã Vân Cầu, tổng Vân Cầu, phủ Yên Thế. Ngày nay, khu di tích này nằm trên phần đất của thôn Ngò, xã Song Vân, huyện Tân Yên.

Hội chùa Am Vãi

Hội chùa Am Vãi

Chùa Am Vãi là ngôi chùa cổ nằm ở gần đỉnh núi của dãy núi Am Ni, bên trái con sông Lục Nam, ở khu vực thị trấn Chũ nhìn sang.

Bánh đa Kế

Bánh đa Kế

Làng Kế là ngôi làng cổ thuộc xã Dĩnh Kế của thành phố Bắc Giang ngày nay. Xã có mười một thôn, trong đó có sáu thôn làm bánh đa. Người dân trong vùng thường gọi là bánh Kế, bởi bánh đa của làng Kế làm ra có hương vị đặc trưng không giống với bánh đa ở bất cứ nơi đâuNgười dân làng Kế làm bánh đa quanh năm, đặc biệt nhộn nhịp vào những lúc nông nhàn. Ban đầu nghề làm bánh đa chỉ là một nghề phụ của người dân, dần dần được chuyên nghiệp hoá trong nhiều gia đình. Họ đã có được lợi nhuận và niềm say mê từ món quà quê rất đỗi thân thuộc này.Bánh đa Kế có từ lâu đời, là một sản phẩm truyền thống chứa đựng sự công phu, khéo léo và tinh tế của người dân. Làm bánh theo kiểu của người Kế thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra lại đòi hỏi sự công phu, khéo léo. Nguyên liệu chính để làm bánh đa Kế là gạo, phải chọn loại gạo ngon, để lâu ngày, khi ấy nhựa gạo chuyển hoá thành một dạng thức khác, nó cô đọng và hoà tan vào những hạt gạo trắng trong. Người ta vo gạo rất nhẹ nhàng, làm sao cho vừa sạch lại vừa bảo đảm những bụi cám vẫn còn dính trên hạt gạo ấy. Sau đó đem gạo ngâm nước, ngày xưa người ta thường ngâm vào những chậu bằng sành, gốm cho đến khi hạt gạo có vị chua và căng mọng lên đem vớt ra để cho ráo nước rồi cho vào xay. Ngày nay người ta xay gạo bằng máy, dễ dàng hơn trước kia rất nhiều, trước đây người dân xay gạo bằng cối đá rất vất vả và công phu. Phải xay gạo thật nhuyễn, hạt gạo hoà cùng những giọt nước trong trẻo tan ra thành bột mịn và trắng muốt. Cũng có khi người ta còn làm thành cơm rồi mới đem xay cùng với gạo, lúc đó cơm sẽ được dàn ra cho nguội, không được nát và cũng không quá cứng. Xay gạo cùng với cơm làm cho bánh đa có độ dẻo cần thiết.Sau khi xay bột, người dân làng Kế tráng bánh, kiểu làm không khác tráng bánh cuốn là mấy, có điều tráng bánh đa phải dầy hơn, độ chín của bánh đa cũng cần phải kỹ càng hơn. Điều đặc biệt là ở bánh đa Kế, người ta tráng bánh hai lần. Lần đầu khi bánh chín rồi nhưng còn ướt, họ vẫn để bánh trên mặt miếng vải ấy, rồi lại tiếp tục đổ thêm một lượt bột lên trên đợi đến khi chín mới đưa ra. Bánh được tráng hai lần sẽ bảo đảm độ dầy dặn.Khi bánh chín, người ta lấy bánh ra rất khéo léo để bánh không bị rách hoặc méo mó. Người làm bánh đa dùng một ống nứa dài và to đặt lên một đầu chiếc bánh rồi quấn lại một cách nhẹ nhàng khoảng nửa vòng rồi từ từ đặt miếng bánh xuống một chiếc phên và gỡ bánh ra.Trước khi đem phơi bánh đa, người ta rắc một lượt vừng đen cùng lạc sống giã giập lên trên. Kỹ thuật rắc vừng, lạc cũng đòi hỏi sự chuyên nghiệp, khi rắc họ lấy tay nhúm lấy những hạt vừng rồi rắc đều lên trên mặt bánh đa, nhưng họ rắc tập trung dày đặc ở tâm chiếc bánh đa. Lại có gia đình cho lạc giã giập hoà cùng bột nước đem tráng lên khuôn.Khi phơi bánh đa, người làng Kế đặt lên trên những tấm phên đan bằng nứa, phên phải phẳng phiu, kích thước không được nhỏ hơn bánh đa khi mang từ khuôn ra. Khi bánh se mặt và vẫn còn dẻo, phải kịp thời gỡ bánh cho khỏi dính vào phên tránh bị vỡ, hoặc thủng, rồi mới lật bánh sang mặt bên kia và phơi tiếp cho đến khô. Khi khô bánh được bảo quản rất cẩn thận. Ngày xưa người ta để bánh vào nơi thoáng mát, cao ráo để tránh ẩm, nay thường xếp bánh vào túi nilông buộc chặt.Trước khi bánh đa Kế đến với người tiêu dùng còn phải thông qua khâu nướng bánh. Đây là công đoạn cuối cùng, phức tạp và đòi hỏi sự tinh tế, kinh nghiệm. Người ta đốt những viên than củi lên, khi những viên than đã bén lửa họ đặt những chiếc bánh đa lên trên chậu than hồng. Một tay cầm bánh đa, một tay cầm chiếc quạt nan. Người nướng phải quạt đều tay, liên tục, những chiếc bánh đa được lật đi lật lại thoăn thoắt, mùi hương thơm toả ra tạo một cảm giác dễ chịu. Thi thoảng họ dừng lại uốn những chiếc bánh cho khỏi bị vênh. Thường người nướng bánh là các bà, các chị với đôi bàn tay nhanh nhẹn, linh hoạt và hết sức kỹ thuật. Nướng bánh đa phải quan sát rất tập trung, phải biết đặt chỗ nào lên trên chậu than hồng ấy, chỗ nào được và chưa được. Quan trọng nhất là người nướng phải biết dừng lại lúc nào, tức là khi bánh đã được rồi thì đưa ra ngay nếu không rất dễ bị cháy. Chiếc bánh đa ngon phải mở phồng, vàng rộm được tô điểm thêm bởi những hạt vừng đen như những vật trang trí làm nổi bật hình thức chiếc bánh.Khi thưởng thức, những chiếc bánh đa có vị bùi, ngọt, giòn và thơm lừng. Từng miếng bánh đa giòn tan trong miệng khiến ta có cảm giác như hương vị quê hương đang dạt dào theo tiết tấu âm thanh quen thuộc mà đáng quý biết nhường nào. Hương vị của miếng bánh đa Kế là hương vị của quê hương xứ sở, là công sức cha ông đã hun đúc và sẽ còn mãi với thời gian./.Theo Báo Bắc Giang

Cuộn xuống để xem thêm bài viết