Không chỉ có những cảnh quan thiên nhiên đẹp, Bắc Ninh còn được biết đến là một miền đất đa dạng về bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh các phong tục tập quán, các lễ hội, các loại hình nghệ thuật… thì văn hóa ẩm thực của đồng bào các dân tộc nơi đây cũng góp phần quan trọng trong việc phát triển du lịch của tỉnh hiện nay.
“Hỡi người đi khắp muôn nơi/ Hãy về Đình Bảng mà coi làng nghề/ Xem trong đôi bánh phu thê/ Lá xanh màu của núi rừng/ Vàng thơm miếng bánh của vùng đế đô…” Giữa vùng đất Kinh Bắc ngàn năm văn hiến, làng Đình Bảng, phường Từ Sơn (tỉnh Bắc Ninh) vẫn gìn giữ nghề làm bánh phu thê - món bánh kết tinh vị ngọt tình duyên và niềm tự hào văn hóa xứ quan họ.
Xã Hiệp Hòa (trước kia là xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa) không chỉ nổi tiếng với ngôi đình chạm khắc tinh xảo được mệnh danh “Đệ nhất Kinh Bắc” hay câu lạc bộ ca trù trứ danh mà còn là quê hương của chiếc bánh gai dân dã, gói trọn hương vị đồng quê.
Nhắc đến đặc sản Bắc Ninh, người ta không chỉ nhớ đến những trái vải thiều ngọt ngào, rượu làng Vân nồng say, bánh phu thê đậm đà... mà còn phải kể đến món bánh đa Kế giòn tan, thơm bùi như mang theo ân tình của những người dân chịu thương, chịu khó.
Làng cổ Thổ Hà, xã Vân Hà (thị xã Việt Yên cũ) nay là tổ dân phố Thổ Hà, phường Vân Hà (Bắc Ninh) từ bao đời nay nổi tiếng với nghề làm bánh đa nem. Không chỉ làm phong phú ẩm thực Việt, mới đây, nghề làm bánh đa nem Thổ Hà được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trở thành niềm tự hào của quê hương Kinh Bắc và là món quà quê níu chân du khách gần xa.
Bằng tình yêu sâu nặng với nghề và văn hóa dân tộc, nhiều nghệ nhân trong tỉnh đã bền bỉ gìn giữ, trao truyền tinh hoa nghề truyền thống của quê hương. Họ thầm lặng kết nối quá khứ với hiện tại, mở ra mạch sống mới cho tương lai làng nghề.
Món ăn từ trứng kiến thì nhiều, nhưng để được gọi là thứ đặc sản của người Lục Ngạn thì phải là xôi trứng kiến. gạo nếp Phì Điền ngâm kỹ, trộn lẫn với trứng kiến rồi lắc đều, thêm vào chút muối mà không cần thứ gì khác để tránh mất đi hương vị đặc trưng. Chõ đồ trên bếp, khi phảng phất hương vị thơm ngậy, đó là xôi đã chín. Xôi trứng kiến thơm ngon, bùi béo. Một vị béo được mang lại từ tinh túy của loài kiến hoang dã, chất béo ấy làm cho xôi mềm hơn, người già yếu, móm mém vẫn có thể thưởng thức ngon lành. Xôi trứng kiến ăn khi còn nóng là món bổ dưỡng cao cấp, ăn một lần là nhớ mãi. Trứng kiến không chỉ ngon mới xôi mà còn ngon khi nấu cùng với nhiều món khác. Lá cây ngõa non bình thường thì không thể ăn được, nhưng đem rửa sạch, thái nhỏ nấu với trứng kiến, thì trứng kiến làm lá ngõa cũng ngon theo. Món trứng kiến nấu mậm riềng cũng thực sự đặc sắc, nó ngon ngọt, thơm cay rất lạ. Món lá lốt quấn trứng kiến đơn giản mà cũng rất hấp dẫn… Lên vùng cao Lục Ngạn mùa này, bên bếp lửa của đêm tình soong hao, thêm món trứng kiến và chai rượu men lá thơm nồng, cũng thấy cuộc sống thi vị biết bao.! Lê Đức Cương
Sản phẩm mỳ chũ của huyện miền núi Lục Ngạn, Bắc Giang từ lâu đã nổi tiếng khắp nơi. Thế nhưng, quy trình làm ra sợi mỳ mỏng manh, thơm ngon, dẻo dai đó thì không phải ai cũng biết.Như "ngọc càng mài càng sáng", sợi mỳ chũ cũng phải trải qua một quy trình khắt khe cùng đôi bàn tay khéo léo của người thợ làm mỳ. Mỳ chũ kén gạo. Ngoài gạo Bao Thai thơm ngon được cấy trên vùng đồi Lục Ngạn thì chỉ có những hạt gạo trắng trong, căng tròn của quê lúa Thái Bình mới được dùng làm nguyên liệu làm mỳ.Vài năm trở lại đây, thứ gạo Lứt đỏ cấy trên vùng đồi Điện Biên cũng là nguyên liệu quan trọng, cho ra sản phẩm mỳ gạo Lứt. Thứ mỳ này hợp với người muốn giảm béo hay bị tiểu đường ăn kiêng. Tuy khó làm hơn mỳ trắng thông thường, nhưng với đôi bàn tay khéo léo, sự kiên trì và nhẫn nại của người thợ, sản phẩm mỳ gạo Lứt hoàn thiện, có chỗ đứng vững chắc trên thị trường.Gạo được sàng lọc kỹ càng, vo sạch bụi bẩn, loại bỏ tạp chất rồi ngâm nước trong vòng 4 - 8 tiếng đồng hồ rồi mới được đem xay nhuyễn thành thứ bột sánh mịn.Tráng bánh là công đoạn hết sức công phu. Người có kinh nghiệm mới có thể tráng được những mẻ bánh có độ chín vừa đủ. Nhiệt thấp, bánh không chín, sẽ giòn, dễ gẫy, mỳ ăn sậm sật, nát vụn. Chín quá thì dễ bị rách, mỳ không đẹp. Trong ảnh là mẻ mỳ gạo pha với rau quả.Mỳ chũ ngon cũng bởi được phơi tự nhiên. Sợi mỳ như thu cả hương vị của cái nắng, cái gió núi đồi Lục Ngạn.Khâu thái mỳ hết sức quan trọng. Sợi mỳ có 3 loại: mỳ sợi to, sợi nhỏ và mỳ sợi vừa. Dù là mỳ sợi loại nào cũng đòi hỏi người thợ phải đưa đều tay mới thái được những sợi mỳ tăm tắp.Bó mỳ đòi hỏi người thợ phải nhanh tay, khéo léo. Các bó mỳ phải được cuộn chặt, tròn, sợi không bị rối, trọng lượng tương đương nhau.Để đáp ứng nhu cầu thị trường, đa dạng và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài mỳ trắng truyền thống, những người thợ làm mỳ còn khéo léo tạo ra các loại mỳ rau củ quả như: mỳ gấc, mỳ nghệ, mỳ đậu biếc... không chỉ đẹp, bắt mắt mà chất lượng cũng rất tuyệt hảo, được người tiêu dùng ưa thích.Người dân vùng Chũ, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang kể rằng: Từ xa xưa, một người Hoa kiều tên là Cả Tòng đến ngôi làng Thủ Dương ven bờ sông Lục làm ăn, sinh sống. Cứ năm hôm một lần, ông lại cùng vợ gánh những gánh mỳ trĩu nặng, qua đò sang sông bán ở chợ Chũ. Người dân quanh vùng mua mỳ của ông về ăn thấy ngon, truyền tai nhau mua ở chợ Chũ. Cứ như vậy, tên gọi mỳ Chũ trở nên thân quen, phản chiếu đời sống văn hóa và tâm hồn người dân Lục Ngạn lúc nào không hay.