Chủ đề

Du lịch Bắc Ninh

Các bài viết mới nhất về Du lịch Bắc Ninh.

933 bài viết
Du lịch Bắc Giang cần đổi mới nhằm tăng cường công tác xúc tiến quảng bá phát triển du lịch

Du lịch Bắc Giang cần đổi mới nhằm tăng cường công tác xúc tiến quảng bá phát triển du lịch

Ngoài lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn, chúng ta cần phải đáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm và các dịch vụ tương ứng. Trong đó, việc tạo ấn tượng bằng sự đa dạng, mới lạ, bất ngờ tại điểm đến là yếu tố then chốt giữ chân khách dài ngày và lôi cuốn khách quay lại lần sau. Nhưng để làm được điều này, ngoài đầu tư về hạ tầng, nhân lực, cải tạo môi trường tự nhiên và xã hội thì sự liên kết, hợp tác giữa các đơn vị kinh doanh du lịch địa phương đặc biệt quan trọng. Mỗi đơn vị mỗi sản phẩm, dịch vụ đặc trưng và phong cách phục vụ riêng, gộp lại thành chuỗi dịch vụ phong phú cho du khách lựa chọn.Bên cạnh với việc quảng bá thì cần phải có dịch vụ du lịch thật tốt. thật hấp dẫn và ấn tượng. Để khách du lịch biết được dịch vụ du lịch của địa phương mình có tốt hay không tốt, thì phải thông qua tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến, đây không chỉ là một hình thức thu hút khách đến sử dụng hàng hóa mà còn là thu hút khách đến sử dụng và tiêu dùng dịch vụ. Vì đặc điểm này, mà du lịch cần thiết có nhiều loại phương tiện tuyên truyền, quảng cáo và xúc tiến khác nhau, để thể hiện các dịch vụ hàng hóa thông qua các hình thức nghe, nhìn, đọc và cảm quan. Chẳng hạn như: Các phong cảnh, các khách sạn, nhà hàng, khu du lịch được thể hiện bằng hình ảnh đẹp, sống động trên các tập gấp, phim, ảnh, trên truyền hình, trên mạng Internet... Bên cạnh đó cần phải làm một số việc cụ thể như: Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường du lịch, ứng xử văn minh, lịch sự để xây dựng hình ảnh tốt đẹp về điểm đến, con người vùng Kinh Bắc với khách quốc tế; Thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn tỉnh trong đó tập trung xây dựng phát triển du lịch đường bộ và nghiên cứu phát triển mô hình du lịch đường sông; Triển khai chương trình kích cầu du lịch gắn với thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ trên cơ sở phối hợp đồng bộ các Sở, ngành và các địa phương; Thực hiện liên kết giữa doanh nghiệp du lịch với doanh nghiệp các lĩnh vực vận chuyển, dịch vụ mua sắm, giải trí… nhằm tạo những gói sản phẩm tốt có sức cạnh tranh cao; Nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm TTXTDL góp phần nâng cao chất lượng quảng bá xúc tiến du lịch theo hướng chuyên nghiệp. Tập trung xây dựng một số quầy thông tin du lịch tại một số điểm trong thành phố Bắc Giang và các khu điểm du lịch nổi trội của tỉnh để tăng cường thông tin cho du khách và doanh nghiệp; Nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch và đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi đầu tư phát triển du lịch. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; Tập trung triển khai công tác đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng theo hướng chuẩn hóa đội ngũ nhân lực ngành du lịch, chú trọng đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các ngành nghề cụ thể như tiếp tân, buồng, bếp, thuyết minh viên, hướng dẫn viên du lịch để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch.Trong thời gian tới cần tập chung đổi mới một số nội dung chủ yếu trong công tác du lịch nhằm tăng cường đẩy mạnh sự phát triển như: * Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá du lịch: Nâng cao chất lượng chuyên mục du lịch trên truyền hình , đài phát thanh trung ương và địa phương; cần thành lập CLB phóng viên du lịch, phát huy vai trò của bản tin Du lịch và trang web của ngành, trên cơ sở không ngừng cải tiến nội dung, mở rộng mạng lưới phát hành; Lập Tổng đài thông tin du lịch phục vụ nhu cầu thông tin du lịch của điểm đến thành phố cho du khách quốc tế và trong nước; Tích cực quảng bá những di sản đã được Unesco và quốc gia công nhận, để tuyên truyền rộng rãi đến công chúng, doanh nghiệp du lịch, báo chí trong và ngoài nước nhằm tạo hiệu ứng quảng bá lan tỏa thương hiệu mới đến khách du lịch trong và ngoài nước; Đẩy mạnh truyền thông quảng bá các loại hình du lịch của tỉnh như: Du lịch tâm linh, mạo hiểm, khám phá, nghiên cứu, nghỉ dưỡng..bằng các phương tiện vận chuyển từ thô sơ như xe ngựa, xe đò, thuyền nan đến tàu thuỷ, ô tô các loại trên đường thủy, đường bộ. * Xúc tiến du lịch: Cần tổ chức và tham gia các hội chợ tại các thị trường trọng điểm và tiềm năng như thị trường quốc tế: Đức, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan. Thị trường nội địa: Các tỉnh tỉnh, thành phố lớn nơi tập trung phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch hình ảnh Việt Nam, hình ảnh Bắc Giang qua các hội thảo, hội nghị. * Công tác Quy hoạch - Phát triển sản phẩm - Hợp tác phát triển du lịch: Thông qua Đề án Quy hoạch Phát triển Du lịch Bắc Giang đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030; Đẩy mạnh chương trình kích cầu du lịch nội địa; Tổ chức khảo sát các tuyến đường sông từ Hải Phòng, Quảng Ninh qua Côn Sơn - Kiếp Bạc, Hải Dương về Bắc Giang trên sông Thương và từ mạn Thái Nguyên về qua sông Cầu; Chương trình Dịch vụ đạt chuẩn phục vụ khách du lịch: Đẩy mạnh việc phát triển, mở rộng mạng lưới các điểm dịch vụ đạt chuẩn (điểm ăn uống và điểm mua sắm đạt chuẩn) phục vụ du lịch, bảo đảm chất lượng được duy trì và nâng cao sau khi được công nhận. Tăng cường quảng bá, tiếp thị, kết nối các doanh nghiệp của chương trình với doanh nghiệp lữ hành, khách sạn nhằm tăng lượng du khách đến các điểm mua sắm, ăn uống đạt chuẩn; Chương trình Nghệ thuật phục vụ du khách: Xây dựng các kế hoạch tổ chức hội nghị bàn về giải pháp nâng cao hiệu quả các chương trình nghệ thuật phục vụ du khách. Theo dõi tình hình hoạt động của các chương trình nghệ thuật phục vụ du khách để có phương án hỗ trợ và quảng bá như: Hát Quan họ, hát Chèo, hát các điệu dân ca của các dân tộc trong tỉnh.Để du lịch Bắc Giang ngày càng thu hút đông đảo du khách trong, ngoài nước, hơn bao giờ hết, cần có sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp các ngành nhất là lãnh đạo tỉnh, cũng như trách nhiệm đồng hành của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với các nhà quản lý. Đặc biệt cần làm tốt và hiệu quả hơn nữa công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến trong hoạt động du lịch, góp phần thu hút du khách, tạo ấn tượng đối với khách du lịch đến với Bắc Giang. Đây là một trong những yếu tố cần thiết tạo đà cho du lịch Bắc Giang “ bay cao, bay xa” trở thành điểm đến hấp dẫn và có sức lôi cuốn mạnh mẽ không chỉ nhờ phong cảnh thiên nhiên hữu tình, phong tục tập quán đặc sắc mà còn bằng chất lượng dịch vụ, sự thân thiện hiếu khách của người dân vùng Kinh Bắc. Trần Anh Tuấn

MỚI NHẤT

" Địa chỉ đỏ" du lịch xuân Ất Mùi ở Bắc Giang

" Địa chỉ đỏ" du lịch xuân Ất Mùi ở Bắc Giang

Hồ Chủ tịch thăm công nhân Việt Nam và chuyên gia nước ngoài khắc phục cầu Phủ Lạng Thương (1-1955)( ảnh sưu tầm) Sau chiến thắng là việc hàn gắn các “vết thương chiến tranh”. Cầu Phủ Lạng Thương được tiến hành xây dựng lại. Tham gia công trình xây dựng cầu gồm các chiến sĩ miền Nam tập kết, các công nhân được tuyển trên địa bàn Bắc Giang và một số tỉnh lân cận. Với khí thế “ tất cả đề xây dựng tốt”, chỉ trong một thời gian ngắn những phần việc cơ bản của cầu đã hoàn thành. Mọi người vô cùng vui mừng phấn khởi khi được biết Bác Hồ sẽ về thăm, chúc tết. Các chiến sĩ miền Nam tập kết, các chuyên gia nước bạn vô cùng xúc động… Xế trưa mồng 1 Tết Ất Mùi (24/1/1955), xe ô tô đưa Bác Hồ đến, cùng đi với Bác có đồng chí Trần Đăng Khoa, Tổng cục trưởng Tổng cục Giao thông Vận tải, cùng một số cán bộ tháp tùng. Vừa xuống xe, mọi người vây quanh Bác. Ai cũng muốn hô thật to: Bác Hồ! Bác Hồ!. Bác lần lượt bắt tay, hỏi thăm sức khỏe mọi người, rồi Bác đi thăm công trình cầu đang trong giai đoạn thi công. Vừa đi, Người vừa hỏi đồng chí Nguyễn Tường Lân, Đội trưởng đội cầu:- Cầu làm được bao lâu rồi?- Thưa Bác, cầu mới bắt đầu gần được hai tháng rồi ạ!Vừa trả lời Bác,đồng chí Nguyễn Tường Lân vừa báo cáo kết quả, thành tích chung của công trường làm cầu Phủ lạng Thương, trong đó có thành tích tiêu biểu của các chiến sĩ miền Nam tập kết, của các chuyên gia giúp ta xây dựng cầu, sự giúp đỡ của nhân dân Bắc Giang… Bác khen – Như thế là tốt!Đi đến giữa cầu, Người dừng lại và nói”- Hôm nay, bác chỉ xem nửa cầu thôi. Bao giờ hoàn thành, Bác sẽ đi thăm cả cầu. các chú có đồng ý như thế không?Nói rồi, Người vui vẻ quay lại. Mọi người tập trung đông đảo bên cầu. Khi đó, Người đứng ngay bên đống gỗ của công trường, hỏi han thêm về tình hình ăn Tết, tổ chức đời sống sinh hoạt của anh em công nhân ta, của chuyên gia nước bạn và tinh thần giúp đỡ của nhân dân Phủ Lạng Thương đối với việc xây dựng cầu. Bác lấy điệu cho mọi người hát bài ca “ Kết đoàn”. Theo nhịp tay Bác, lời ca vang lên như lời hứa với Bác, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, để đón ngày Bác lại về thặm. Và chỉ trong bốn tháng, cầu Phủ Lạng Thương đã hoàn thành vượt mức kế hoạch!Theo Tiến sĩ khoa học Nguyễn Huy Hạnh, trong tập sách “Di tích Bắc Giang” tập I, Bảo tàng Bắc Giang xuất bản, năm 2001), cho biết, cũng trong dịp Xuân Ất Mùi, vào ngày 8/2/1955 ( tức 16 tháng Giêng Ất Mùi), Bác Hồ đã về thăm Cẩm Xuyên ( xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa). Người đi thăm hộ nông dân được chia quả thực, thăm nơi ăn chốn ở của anh chị em cán bộ đoàn cải cách, làm việc với Ban cán sự Đoàn ủy Đoàn cải cách đóng tại đình Cẩm Xuyên, tham dự và nói chuyện với Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt 2 tại Hội trường Soi Vải, thôn Cẩm Xuyên.. Những câu chuyện về Bác với quê hương Bắc Giang vẫn luôn hiện hữu trong mỗi chúng ta hôm nay, nhất là trong việc thực hiện cuộc vận động : “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trần Thái

Lễ Hội Truyền Thống Bắc Giang

Lễ Hội Truyền Thống Bắc Giang

Là vùng đất cổ giàu truyền thống, Bắc giang có tới hơn 500 lễ hội được tổ chức hàng năm, trong đó có những lễ hội được công nhận là di sản phi vật thể Quốc gia gồm lễ hội Thổ Hà, lễ hội Yên Thế và lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm. Hầu hết các lễ hội còn mang đậm nét văn hóa truyền thống với nhiều trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao ý nghĩa. Trong tháng giêng âm lịch Bắc Giang có một số lễ hội tiêu biểu sau:

Sưu tập bướm ở khu du lịch Khe Rỗ

Sưu tập bướm ở khu du lịch Khe Rỗ

1. Đàn bướm Ma lanh. Đây là loài bướm có số lượng đông nhất ở khu Du lịch sinh thái Khe Rỗ. Người dân vùng Tây Yên Tử đặt tên là bướm Ma lanh vì nó rất đẹp như tiên nữ, cánh mỏng, bay nhanh, cả đàn thoắt ẩn thoắt hiện theo thời tiết nắng mưa. Đến Khe Rỗ những ngày nắng đầu mùa xuân dễ dàng bắt gặp nhiều đàn bướm Ma lanh dọc đường vào rừng nguyên sinh. Cả đàn cứ bám lấy mặt đường và kỳ lạ không hiểu có gì quyến rũ chúng ở mặt đường sỏi đá ấy.2. Tiểu Bạch hồ điệp là loài bướm nhỏ, kiếm ăn theo đàn, có đàn hàng nghìn con. Ở Khe Rỗ Tiểu Bạch hồ điệp thi thoảng mới xuất hiện trong những ngày đẹp trời. Loài bướm này chậm và rạn người nên đôi khi vào rừng va cả vào nó.3. Khe Rỗ có loài Hoàng đế hồ điệp (bướm Hoàng đế) khá to, cánh giáp có màu sắc trầm ấm mà sang trọng, quý phái. “Thiên họa” cho loài bướm này gam màu đặc biệt lại điểm thêm cho mỗi cánh năm hạt ngọc bích. Đây là một loại bướm quý cần được quan tâm bảo tồn.4. Thanh Đài hồ điệp lại có ánh sắc xanh rêu quyến rũ đặc biệt. Cánh giáp trước to dầy, phần đuôi cánh trước lại điểm hai viên hồng ngọc tỏa hai ánh hào quang.Hai cánh giáp sau nhỏ nhưng hình dáng diêm dúa...thật kỳ diệu.5. Mùa xuân tình yêu của Thanh Đài hồ điệp6. Đây là loài Giáp Cam hồ điệp (bướm cánh màu cam) nhỏ bốn đốm mắt rất hiền7. Và đây là những nàng tiên nâu có giáp cánh lớn như hình cánh buồm.Đẹp nhưng hay gặp ở bãi rác ven đường vào khu rừng sinh thái nguyên sinh Khe Rỗ.8. Thiên Đường hồ điệp (bướm Thiên Đường) cánh giáp dày màu đen tuyền điểm trắng. Khi đậu hay ngẩng cao đầu, đuôi cánh sau dài rất mĩ miều.9. Hổ Văn hồ điệp (bướm Hổ vằn) cũng xuất hiện nhiều ở khu du lịch sinh thái Khe Rỗ.10. Bạch Phàm hồ điệp (bướm cánh buồm trắng) hay lởn vởn baybờ ven suối và hay đậu trên các đám rêu xanh hình như để nó hút tinh chất từ những đám rêu phủ trên dày trên đá thay cho mật hoa.11. Một con Thiên Phượng hồ điệp lạc bầy…12. Ở Khe Rỗ lại có loài bướm bé tí chỉ nhỉnh hơn cái cúc áo mà cánh mỏng tang.Loài bướm này connào cũng đơn độc lại chậm và hiền rất dễ bắt.13. Tam thể hồ điệp (Bướm ba màu) ở Khe Rỗ cũng rất quyến rũ. Loài bướm này cánh dày và khỏe, bay nhanh nên khó mà chao được nó.14. Và đây là đôi Hoàng hồ điệp e ấp bên vách đá15. Ở Khe Rỗ, hoa rừng cũng muốn hóa thân thành bướm trắng.Nguyễn Văn Phong

Du lịch khuôn thần với công tác bảo tồn di sản văn hóa

Du lịch khuôn thần với công tác bảo tồn di sản văn hóa

Từ những năm 1995 huyện đã tổ chức Lễ khai trương khu du lịch Khuôn Thần và mở các hội hát Sloong hao, Sli, Lượn nhưng chưa đạt được kết quả mong muốn, nên tiềm năng vẫn còn bỏ ngỏ. Ước muốn của Đảng Bộ và nhân dân các dân tộc trong khu vực lòng hồ Khuôn Thần và nhân dân trong huyện có được một điểm du lịch sinh thái gắn với bảo tồn di sản văn hoá là một nhu cầu chính đáng rất cần được sự quan tâm. Vấn đề ở chỗ, ai đầu tư nhưng phải đảm bảo những hạng mục công trình cơ bản, thiết yếu của một vùng du lịch không chỉ như nhiều nơi khác mà Khuôn Thần cần phải đặt ra những hạng mục công trình mang đậm bản sắc văn hoá, bảo tồn di sản Văn hoá dân tộc, trong đó sẽ chú trọng một số nội dung bảo tồn văn hóa vật thể và đặc biệt là bảo tồn các loại hình văn hóa phi vật thể như xây dựng nhà truyền thống, trưng bày, bảo tồn các vật thể văn hoá của các dân tộc vùng Đông Bắc, trong đó mang đậm bản sắc 8 dân tộc Lục Ngạn. Bảo tồn các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ dân tộc của các dân tộc, phục hồi các lễ hội văn hoá truyền thống: Hội Xuống đồng, hội cầu mùa, hội hàng phe, lễ cưới, hỏi; Sưu tầm,ghi âm, phỏng dịch, in thành sách, đĩa CD- VCD để lưu giữ, và phát hành các ấn phẩm văn hoá (vật thể hoá văn hoá phi vật thể) cho bảo tàng và phục vụ khách du lịch. Tổ chức các CLB hát dân ca, dân tộc: truyền dạy cho lớp trẻ, may mặc trang phục truyền thống để bảo tồn và phục vụ khách du lịch nghiên cứu, thưởng thức các lối hát truyền thống.Khôi phục các làng nghề truyền thống: Dệt vải, đan sung, may trang phục dân tộc. Xây dựng “Làng Văn hoá dân tộc” và “Cộng đồng các dân tộc” “du lịch cộng đồng” để là mẫu hình tăng cường phong trào “ TDĐKXDĐSVH ” và là nơi thăm quan du lịch, “Xã hội hoá” công tác du lịch.Các lò sản xuất men rượu, nấu rượu, các món ẩm thực dân tộc: lợn quay, khau nhục, nhộng ong, chả, xôi trứng kiến…các loại bánh: bánh tày, bánh gio, bánh vắt vai… Khôi phục đền thờ tướng quân Hồ Công Trạc ( người có công phò Vua Trần, gĩư nước, được phong Thần và được vua Trần cho phép xây dựng đền thờ Ông nên có tên là Quân Thần) tại làng Khuôn Thần và lễ hội truyền thống, hội hát dân ca dân tộc Nùng tại đây… Xây dựng tour thăm quan du lịch: Di tích lịch sử văn hoá đền thờ Hồ Công Trạc, đình Cống( nơi chi bộ Đảng xã Kiên Lao đại hội lần thứ nhất) địa danh Lán Cháy (đã xây dựng cột mốc lịch sử năm 2006 nơi đại hội đảng bộ huyện Lục Ngạn lần thứ nhất tháng 5- 1951). Khu căn cứ chống Pháp, nơi đại tướng Võ Nguyên Giáp đã về thăm tại xã Kiên Lao…phối kết với Đền Hả (xã Hồng Giang), chùa Am Vãi (xã Nam Dương), đền chùa Khánh Vân (Thị Trấn Chũ), khu di tích Cầu Từ và các điểm khai quật tại Cầu Từ( xã Phượng Sơn) đã phát lộ dấu tích thời Lý tương tự như Hoàng thành Thăng Long. Đó là những điểm nhấn về văn hoá không thể thiếu nếu như không muốn nói là hồn cốt của khu du lịch sinh thái Khuôn Thần được gắn với văn hoá tâm linh, văn hoá vật thể và phi vật thể; vừa bảo tồn, phát huy, phát triển đúng quan điểm, đường lối của Đảng và phát triển vững bền. Bá Đạt

Trứng kiến- Thời trân miền Tây Yên Tử

Trứng kiến- Thời trân miền Tây Yên Tử

Cuối xuân vào mùa đánh kiến…Quý xuân là tháng cuối mùa xuân. Cứ năm nào nắng sớm thì vào cữ cuối tháng Hai âm lịch, nắng muộn thì sang đầu tháng Ba là đến mùa đánh trứng kiến. Giống kiến nâu làm tổ cả năm nhưng đầu xuân mới sinh đẻ. Ấu trùng kiến đẻ ra nhưng phải vào thời tiết có nắng xuân mới phát triển. Cho nên, muốn đánh kiến được nhiều trứng phải xem thời tiết đầu xuân từng năm mà định liệu. Đánh đúng vụ là đánh vào lúc tiết trời nắng đẹp, khô ráo… trứng kiến vừa nở căng đầy người ta gọi là lúc kiến mẩy. Đánh sớm quá ấu trùng chưa phát triển thành trứng vẫn gắn chặt vào tổ, gõ không ra hoặc ra rất ít gọi là bị kê. Nếu đánh muộn, trứng kiến đã nở thành con, trứng ít, ăn không ngon và không khéo bị đốt oan, phí công. Ở vùng rừng núi Mai Sưu, Đan Hội (Lục Nam), Kiên Lao, Kiên Thành, Nam Dương, Mỹ An (Lục Ngạn)… xưa có nhiều người rất thạo nghề đánh trứng kiến. Vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ trước, vào cữ tháng Ba, bữa cơm nhà tôi ít khi thiếu bát trứng kiến trên mâm. Mùa trứng kiến, ngoài những buổi học, tôi cứ lễ mễ theo người lớn hành nghề. Đồ nghề đánh kiến tuy đơn giản nhưng cũng lích kích lắm thứ nào là câu liêm, dao quắm, rá, rồi khăn mặt…Đi ở đâu thì dễ chứ đi luồn trong rừng với bằng ấy thứ thì vướng víu, bận rộn khó mà đánh được nhiều trứng kiến. Thầy tôi là người thạo nghề đánh kiến, nếu giờ cụ còn sống có thể phong cụ là nghệ nhân của thứ nghề độc đáo này. Nhìn cách chuẩn bị, sắp xếp mấy dụng cụ đánh kiến của thầy tôi là biết ngay tài nghệ truyền đời. Trước tiên là việc chuẩn bị rá đánh kiến. Là cái rá to thường dùng nhưng phải bổ sung thêm phụ kiện là cái ngọn tre có ba chạc. Muốn có chạc tốt phải chọn ngọn tre già, khô, thẳng (nhẵn bóng càng tốt) có ba cái tay đều nhau rồi dùng lạt buộc miệng rá vào các tay tre chắc chắn là được. Dao quắm mài sắc cho vào phẻn rồi buộc vào thắt lưng gọn gàng. Gọi là câu liêm nhưng chỉ là cái liềm thường dùng để gặt lúa rồi buộc chắc vào đoạn tre dùng dài để khi cần kéo tổ kiến từ trên cao cho đỡ phải leo trèo và tránh bị kiến đốt.Đến mỗi khoảnh rừng, thày tôi trèo lên một cây cao nhất ngắm nghía phát hiện ra ngay những tổ kiến từ xa. Tổ nào mẩy thì lấy câu liêm kéo vít, đốn cành kéo tổ về một chỗ thoáng rộng rồi dùng dao sắc vạc dần từng miếng tổ rồi lấy sống dao gõ, từ nhẹ đến mạnh dần vào cành cây để trứng rơi vào rá. Khi vạc tổ kiến không được vạc tham từng miếng to mà vạc dần, gõ dần trứng mới róc. Tổ nào nhìn có màu đen bạc, thớ tổ gờ to, cành cây hơi trĩu, khi chặt cành nâng lên thấy nặng tay thì y như rằng tổ kiến mẩy. Tổ nào trông đen xì, xốp …thì ít trứng. Nhìn màu tổ và vỏ tổ kiến để quyết định có nên chặt đốn hay khỏi mất công mà để gây dành đến mùa sau. Giống kiến nâu tuy nhỏ con nhưng ranh ma lắm, cứ thấy động cành là cả đàn bò ra khỏi tổ. Chúng bám trên cành, trên lá cây nên người đứng dưới cứ động nhẹ là hàng chục hàng trăm con rơi vào đầu và ra sức cắn/đốt. Hơn nữa, khi tổ bị động mạnh là chúng tập trung ăn trứng, cho nên đã chặt đốn cành phải vạc, gõ cho nhanh, cho hiệu quả để tránh bị đốt và lũ kiến không kịp ăn trứng.Đánh kiến kiêng kỵ nhất là trời râm không có nắng, nếu gặp trời mưa thì chỉ có nước về không. Vì trời mưa không luồn rừng được, không kiếm được mùn đất khô thì chỉ làm mồi cho kiến đốt. Hơn nữa, tổ kiến bị ướt gõ không ra trứng rất lãng phí.Ngày chưa thoát ly đi công tác, chẳng mùa đánh kiến nào không làm tôi háo hức, mong chờ. Tôi đi theo thày tôi để phụ giúp việc vác rá, tìm tổ kiến và quan trọng hơn là việc thỉnh thoảng phải tìm kiếm ít mùn giun khô bóp vụn thành bụi mịn để xoa lên cán rá bẫy bọn kiến. Vì khi gõ tổ kiến, cả kiến bố, kiến mẹ và trứng kiến đều rơi vào rá, cho nên kiến già cứ bò lên miệng rá hàng đàn. Muốn không để kiến bò theo chạc cây vào đốt thì lấy mùn giun khô xoa lên cán rá để chúng bò đến đấy là trơn trượt ngã cái xoạch. Tuy nhiên, để phòng những con cố tình qua bẫy thì cứ vài phút lại lấy sống dao gõ vào cán rá cho chúng rơi rụng xuống rừng là khỏi bị đốt. Hơn nữa, cách gõ như vậy cũng để đàn kiến phát tán, tiếp tục phát triển mà đánh vào những vụ sau.Khi đã được lưng rá trứng kiến đem về nhà phải tiếp tục vài công đoạn nữa mới có thể đem trứng kiến chế biến thành món ăn ngon.Đầu tiên là việc sàng sảy cho hết lá cây và tạp chất từ tổ kiến. Sàng sảy kiến phải nhẹ nhàng để tránh vỡ trứng, nát trứng. Cái khó hơn là những con kiến già không chịu dời trứng thì phải lấy khăn mặt khô trao lướt qua lại nhiều lần trên mặt lia cho chúng bám vào rồi đem chỗ khác rũ sạch…Cứ thế nhiều lần, kiến già sẽ hết. Cẩn thận hơn có thể bỏ trứng kiến vào chậu nước sạch, ấm đãi thêm lần nữa để kiến già và tạp chất nổi lên, hớt đi là có mẻ trứng kiến an toàn vệ sinh thực phẩm tuyệt đối.Những món ngon từ trứng kiến…Trứng kiến là thức ăn ngon, bổ dưỡng, Đông y cho rằng trứng kiến tính thanh ngọt có tác dụng bồi bổ cơ thể. Là món ăn dân dã nên các món ăn chế biến từ trứng kiến không cầu kỳ. Đến các địa phương thuộc huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động tỉnh Bắc Giang thường được thưởng thức các món thông thường như: Trứng kiến hấp hai lửa (làm thức ăn với cơm hoặc xôi), bánh kiến, xôi trứng kiến. Có lần đến vùng Kiên Lao, Kiên Thành (Lục Ngạn) chúng tôi còn được bạn bè cho thưởng thức món trứng kiến sống ăn cùng bánh đa, nhắm rượu cũng rất thú vị. Gần đây nhiều người dùng trứng kiến để ngâm rượu nghe nói có tác dụng bổ thận tráng dương không kém gì rượu tắc kè hoa ngâm ba kích hay cá ngựa.Trứng kiến hai lửa: Trứng kiến đã làm sạch, bỏ vào nồi, ướp ít bột canh (có người thêm chút nước lã, mì chính), mắm ngon đảo đều, để chừng mươi phút cho ngấm gia vị. Hành khô dập kỹ, băm nhỏ, phi tái vừa thơm. Gia vị đã ngấm, đặt nồi trứng kiến lên bếp chưng, rải hành phi lên trên đậy vung kín. Chờ xôi mươi phút cho chín tới, đảo đều bắc ra. Để trứng qua đêm, sáng hôm sau đặt lại trên bếp cho xôi vài phút, để nguội hẳn mới được ăn. Trứng kiến khi chưng nóng ra nước xẹp lép, để sáng sau hút nước căng mọng, béo ngậy. Có thể ăn với cơm hay xôi trắng đều rất đặc biệt.Xôi trứng kiến cách thủy: Chuẩn bị như đồ xôi gà cách thủy, xôi dưới, trứng kiến và gia vị bên trên. Xôi chín, trứng chín để nguội kỹ rồi đảo đều. Xôi thấm mùi vị trứng kiến, trứng kiến nguội nở căng đầy. Ăn xôi béo và thơm lắm.Bánh trứng kiến: Trứng kiến đảo đều chín tới bắc ra để nguội. Bột gạo nếp, tẻ mịn tỷ lệ 1/3. Đem bột, trứng kiến trộn đều với nước dừa, gia vị cho sền sệt rồi hấp chín (có người trộn thêm bột lòng đỏ trứng gà mới hấp rồi đem rán cho thơm). Bánh kiến thường to bằng chiếc đĩa, khi ăn xắt thành miếng nhỏ vuông vuông, ăn cùng vài thứ rau thơm sẽ thú vị hơn. Món này không nên lạm dùng nhiều trứng kiến ăn sẽ ngấy, mau chán.Khi đọc, dịch một số bản thần tích, sự lệ ở một số làng /xã thuộc tổng Trù Hựu, Mỹ Nương (huyện Bảo Lộc, Lục Ngạn xưa) thấy ghi rành rành, vào các dịp lễ tế Thành hoàng phải có món xôi hoặc bánh trứng kiến. Để có bánh thờ, Cai đám làng Sú (An Phú), xã Mỹ An phải cử người lên núi Cống đánh trứng kiến đem về làm bánh tế thần. Thế mới biết từ xưa trứng kiến đã là món ngon trân quý, đâu phải món ăn dân dã quê mùa.Những năm gần đây, cũng dịp cuối xuân, du khách trẩy hội vùng Kiên Lao, Kiên Thành, Nam Dương, Tân Mộc… hay tham dự Ngày hội văn hóa các dân tộc huyện Lục Ngạn, trong khi giới thiệu các món ẩm thực chân quý của địa phương, thấy không thể thiếu các món ngon như bánh nếp, xôi nếp chế biến từ trứng kiến./. Nguyễn Văn Phong

Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Đặc sản ẩm thực ngày tết của người Cao Lan vùng Tây Yên Tử

Xôi ngũ sắc “ gói cả trời đất trong tay”: ngũ phúc lâm môn.Trong phiên chợ vùng cao phía Bắc, tổ chức tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam xuân 2013, tại gian trưng bày của tỉnh Bắc Giang không chỉ có mật ong vải thiều; mì Chũ; bánh đa Kế; nấm lim xanh Đèo Gia; mây tre đan Tăng Tiến mà đặc sản xôi trứng kiến của đồng bào Cao Lan ở Đèo Gia đã thu hút hàng nghìn lượt khách trong và ngoài nước, trong đó có nhiều phóng viên của các báo, tạp chí và truyền hình tới thưởng lãm, bởi sự độc đáo, đặc sắc của món ẩm thực đặc biệt này. Sự độc đáo của sản phẩm bao gồm cả nguyên liệu chế tác, sự cẩn trọng, khéo léo của người thực hiện. Về nguyên liệu, phải tìm và lấy được lá cây thau từ tháng 7 đến tháng 10, khi lá vừa đủ độ già. Lá cây thau được giã lọc lấy nước sẽ được màu tím. Màu xanh được lấy từ lá cây gừng; màu đỏ được lấy từ lá cây cẩm hồng hoắc cẩm tía; còn màu vàng được lấy từ củ nghệ hoặc quả dành dành( cũng giống như màu vàng của tranh Đông Hồ). Đối với từng loại lá, quả, củ đều được nghiền kỹ, lọc lấy nước đặc để dùng. Riêng màu trắng là của chính thứ gạo nếp thơm của vựa nếp Phì Điền. Từng phần gạo được ngâm riêng với từng loại nước màu cho ngấm, trong khoảng 3 canh giờ ( khoảng 6-7 tiếng) thì cho vào chõ để đồ xôi, Khi xôi chín được cho vào khuôn đã có sẵn. Xúc xôi vào từng ngăn ô trong khuôn với 5 màu riêng biệt. 5 màu thường là: Đỏ, đen, trắng, vàng, xanh ( hoặc tím). Những màu tượng trưng cho ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Dân gian cho rằng, thưởng thức món xôi ngũ sắc là ngũ phúc lâm môn. Nếu khuôn bánh to bằng chiếc mâm thì có thể trang trí các hình và chữ nổi, bằng chữ Hán hoặc chữ Việt. Du khách một lần được thưởng lãm và thưởng thức món xôi ngũ sắc của đồng bào Cao Lan vùng Tây Yên Tử thì mãi nhớ. Bánh vắt vai, “ bánh thương, bánh nhớ”

Cuộn xuống để xem thêm bài viết