Thổ Hà xưa là một xã thuộc huyện An Việt, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc nay là thôn Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Nền kinh tế của Thổ Hà không mang tính chất thuần nông như đại đa số các làng xã Việt Nam trong suốt lịch sử hình thành và tồn tại của mình. Từ xa xưa, Thổ Hà đã định hướng cả ba hoạt động kinh tế: công nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Lễ hội Thổ Hà, một lễ hội cổ truyền có từ bao đời nay, được tồn tại và hình thành trên cơ sở đó. Cùng với di tích lịch sử văn hoá : Đình Thổ Hà, chùa Đoan Minh và từ chỉ làng Thổ Hà, đã tạo nên một không gian rộng mở khiến lễ hội Thổ Hà - một lễ hội dân gian truyền thống với quy mô lớn, nội dung phong phú, hấp dẫn và tính chất độc đáo của nó được du khách gần xa biết đến
Đình Vồng thuộc xã Song Vân, huyện Tân Yên, Bắc Giang.Lễ hội đình Vồng gồm lực lượng chính của 4 xã: Song Vân, Ngọc Vân, Lam Cốt, Việt Ngọc của tổng Vân Cầu cũ. Ngoài ra còn một số xã khác xung quanh ở phía Tây của huyện tham gia.Lễ hội đình Vồng là một lễ hội có từ lâu đời. Hàng năm hội đình Vồng được tổ chức vào ngày 15, 16,17 tháng giêng và ngày 9,10,11 tháng 9 âm lịch
Nằm bên bờ sông Cầu, làng Thổ Hà nổi danh với nghề làm gốm từ thế kỷ 14. Nơi đây từng là một thương cảng tấp nập thuyền bè ngược xuôi ra vào bến sông Như Nguyệt, mang đi những đồ gốm thổi hồn từ đất và bàn tay nghệ nhân làng.
Nghề gốm sứ được đánh dấu mốc ở Bắc Giang từ vài thế kỷ trước, từ những sản phẩm của làng Gốm vùng Châu thổ Sông Hồng, nằm ven sông Cầu- Làng Thổ Hà nổi danh 1 thời; cho đến những sản phẩm dòng gốm riêng- gốm làng Ngòi, Sứ Quảng Minh, Gốm Sứ Bắc Giang…Tất cả đều mang đậm phong cách dân gian và nét văn hoá làng quê đặc sắc được kết tinh trong mỗi sản phẩm. Sau một thời gian bị lãng quyên, gốm làng Ngòi từng bước xây dựng thương hiệu trên thị trường, có mặt tại nhiều công trình trên khắp mọi miền đất nước, đồng thời xuất khẩu sang Nhật, Ấn Độ, Ai Cập, châu Âu…
Làng nghề mây tre đan Tăng Tiến, xã Tăng Tiến, Việt Yên (Bắc Giang) là nơi có nghề đan lát truyền thống nổi tiếng từ rất lâu đời. Làng có lịch sử hình thành nghề đến nay đã hơn 300 năm, khoảng vào thời nhà Hậu Lê và ngày một phát triển lớn mạnh.
Du khách đến với Bắc Giang, say cảnh đẹp Bắc Giang, cảm cái tình người Bắc Giang và những tinh hoa ẩm thực vùng Kinh Bắc và để đến khi chia tay vẫn còn lưu luyến, vẫn còn quấn quýt không muốn rời. Cái cảm mến ấy đã được Hoàng Tuấn Anh- GĐ Trung tâm TTXTDL Hải Phòng cảm nhận. Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.
Xã Đa Mai xưa kia thuổc tổng Đa Mai, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc. Ngày nay xã Đa Mai thuộc thành phố Bắc Giang. Nguồn sống chính của người dân Đa Mai là chế biến lương thực, mà nổi tiếng là sản phẩm bún đã được người dân khắp nơi ca ngợi : bún Đa Mai, vai làng Đò, giò làng Thương, tương làng Bún…Muốn có bún ngon cũng đòi hỏi lắm công phu. Người làm bún cẩn thận từ khâu chọn gạo, nếu không đúng loại gạo bún sẽ nát, chua, mau hỏng. Xưa kia có hai loại gạo được dùng để chế biến bún là gạo bông hồng và gạo sớm hay còn gọi là gạo sụng hoặc gạo ré, ngày nay dùng các loại gạo 203, bao thai hồng, mộc tuyền, T16. Sau khi đã chọn được gạo, người làm bún phải đãi gạo cho sạch hết những tạp chất, sỏi, sạn. Nếu chẳng may còn sót lại những viên sạn son thì cả mẻ bún đó sẽ trở thành màu phớt hồng, không đảm bảo chất lượng và thẩm mỹ. Gạo được đãi sạch sẽ, kỹ càng thì cho vào chậu sành ngâm với nước sạch chừng 12 tiếng đồng hồ, sau đó vớt gạo ra và đãi lại lần cuối, rồi đổ gạo vào rá cho ráo bớt nước, chuyển sang công đoạn xay rồi ngâm bột. Vại sành dùng để ngâm bột phải là vại nung già thành sành, nếu vại non sẽ thôi ra bột, ảnh hưởng đến chất lượng mẻ bún. Ngâm bột còn tuỳ thuộc vào mùa và thời tiết. Nếu thời tiết nóng thì ngâm khoảng 2 ngày, thời tiết lạnh ngâm khoảng 7 ngày. Bột ngâm càng kỹ thì bún càng dẻo, ngon và bảo quản được lâu. Trong khi ngâm, mỗi ngày phải thay nước một lần.Bột đã ngâm đủ thời gian quy định được múc vào miếng vải (thường là vải diềm bâu trắng) gói lại gọi là quả bột, rồi dùng vật nặng (cối đá) để nén bột cho chảy kiệt hết nước, sau đó lấy ra cắt làm đôi, thúc lại cho đều, tạo thành quả bột tròn, mỗi quả có trọng lượng 5-6 kg. Đun nước sôi, cho quả bột vào giỏ, thả vào nồi nước sôi luộc. Thời gian luộc vào khoảng từ 15 đến 20 phút (cũng phụ thuộc vào thời tiết). Nhưng theo kinh nghiệm bà con cho biết, khi nào xung quanh vỏ quả bột chín vào khoảng một đốt ngón tay là được. Quả bột vớt ra cho vào cối giã. Thường là ba người đứng giã và một người vén bột rất đều đặn nhịp nhàng. Nay khâu này đã được làm bằng máy. Quả bột giã ban đầu tơi như đỗ, sau càng giã càng dẻo quánh dần. Giã bột càng kỹ thì sợi bún càng dai. Giã khoảng 30 phút thì lại quệt bột thành quả lớn đưa vào khay gỗ nháo cùng nước đun sôi để ấm cho đến khi nào bột sền sệt là được.Công đoạn tiếp theo là cho bột vào ống lượt để lọc. Ống lượt là một miếng vải dệt bằng sợi tơ tằm màu trắng (dệt thưa lỗ nhỏ hơn lỗ màn tuyn), sau đó khâu chắc hai mép vào với nhau thành hình ống có chiều dài là 70 cm, đường kính 10 cm. Miếng ống lượt được đính một miếng vải dày, chắc có kích thước là 20 cm x 300 cm, bên trên cũng có quai cầm gọi là tai lượt, dùng để cầm khi lọc bột.Bột lọc chảy vào chậu sành hoặc thau nhôm, chậu nhựa, còn những hạt bột to đọng lại trong ống lượt được dùng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm.Sau khi bột đã lọc kỹ, người làm bún chuyển sang công đoạn vặn bột thành bún. Trên bếp đặt một nồi nước sôi lăn tăn (khoảng 80oC), xưa là nồi đồng to, nay là xoong nhôm cỡ 60. Khuôn vặn được tạo từ một miếng vải dày hình vuông, ở giữa miếng vải khoét lỗ đặt khuôn hình tròn bằng đồng được kính 8 cm, bề mặt khuôn đục nhiều lỗ nhỏ. Đặt khuôn trên một bát to, lấy thìa gỗ múc bột vào, sau đó nhấc khuôn vặn bột vào nồi nước sôi lăn tăn (nước trong nồi luôn luôn đầy lưng nồi). Khi vặn xong một lần đậy vung lại khoảng 1 phút, mở vung ra, những sợi bún nổi lên thì vớt bún ra. Mỗi lần vặn được khoảng 1kg bún. Dụng cụ vớt bún là một rổ tre đan thưa, đường kính 25 cm, có gắn một cán bằng gỗ làm tay cầm, dài khoảng 20 cm. Bún được vớt ra chậu hoặc thau nước nóng già, để một lúc, sau đó vớt ra rổ ép hết nước, đổ ra sàng là được sản phẩm bún rối.Muốn tạo bún lá thì phải làm tiếp công đoạn bắt bún : Khi bún được vớt ra chậu hoặc thau có nước nóng già, nhúp những sợi bún lên đặt vào ngón trỏ, ngón giữa bàn tay phải kẹp bún vuốt đều cho sạch nước rồi để vào thúng, rổ, giá có lót lá chuối tươi. Sản phẩm bún Đa Mai còn có bún vẩy ốc và bún con ba. Để làm bún vẩy ốc, khi bún đã được vuốt thắng và sạch nước thì cuốn tròn xoáy trôn ốc. Bún con ba cũng có kỹ thuật làm như bún vẩy ốc, nhưng để thẳng ba con một lượt, xếp ngang dọc chồng lên nhau. Mỗi con bún chỉ dài 7-8 cm.Bún là món ăn dân dã thích hợp với khẩu vị của nhiều người. Từ sản phẩm bún có thể chế biến nhiều món ăn : Bún chả, bún ốc, bún nem, bun riêu cua, bún ngan, bún vịt, bún măng, bún sườn, bún cá, bún thịt chó, bún đậu mắm tôm.Báo Bắc Giang
Nằm ở vị trí nhất cận thị, nhị cận giang thôn Nội Duệ xã Tự Lạn huyện Việt Yên là một vùng quê có nhiều thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Nghe tên làng ta hình dung Nội Duệ phải là một làng thuộc tỉnh Bắc Ninh. Nhưng không phải vậy, cách trung tâm xã Tự Lạn chừng 2km đi men qua con đường đê vắt qua làng ta đến thôn Nội Duệ.
Làng Kế là ngôi làng cổ thuộc xã Dĩnh Kế của thành phố Bắc Giang ngày nay. Xã có mười một thôn, trong đó có sáu thôn làm bánh đa. Người dân trong vùng thường gọi là bánh Kế, bởi bánh đa của làng Kế làm ra có hương vị đặc trưng không giống với bánh đa ở bất cứ nơi đâu.
Chùa Đức La có tên chữ là Vĩnh Nghiêm tự thuộc xã Trí Yên huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.Nằm cách thành phố Bắc Giang khoảng 20 km về phía nam, Vĩnh Nghiêm là một ngôi chùacổ có niên đại khoảng hơn 700 năm và được coi là chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử-Trường đại học phật giáo đầu tiên tại Việt Nam. Vĩnh Nghiêm được đặt trên một quả đồi thấp, lưng tựa vào núi Cô Tiên thuộc dãyPhượng Hoàng, phía trước là cánh đồng bằng phẳng, rộng lớn và nhìn ra ngã ba sông phíaLục Đầu Giang – Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Đây được cho là một địathế đẹp không chỉ bởi cảnh quan sơn thủy hữu tình mà còn có vị chí chiến lược về quân sự.Cảnh đẹp của Vĩnh Nghiêm được người đời xưa ca ngợi trên tấm bia lục lăng khắc bằng chữHán vào năm Hoằng Định thứ 7(1606) tại chùa:“Chùa Vĩnh Nghiêm là một danh lam đượcxây dựng giữa một khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của vùng Kinh Bắc. Nơi đây trangnghiêm rực rỡ, non cao ngàn dặm, trùng trùng điệp điệp vây quanh thành hình cái nong,chùa ở chỗ con sông sóng nước dạt dào mênh mông, quanh co uốn lượn chầu về như dảilụa bạc. Đây là một danh lam đứng đầu trong thiên hạ".Về kiến trúc: Vĩnh Nghiêm mang nét kiến trúc đặc trưng của chùa cổ vùng Bắc Bộ, được kếtcấu theo lối nội công ngoại quốc. Trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo đến nay đa số nét kiếntrúc còn lại của chùa là những tác phẩm nghệ thuật của thời Lê-Nguyễn. Hiện chùa gồm cáckhối kiến trúc chính như: Cổng tam quan, Tòa tiền đường( tam bảo), Nhà tổ đệ nhất; Gácchuông; Nhà tổ đệ nhị; Hai dãy hành lang đông tây và Khu vườn tháp. Chùa thờ Phật và 3 vịTrúc Lâm tam tổ tức Phật hoàngTrần Nhân Tông (1258-1308), phápdanh ĐiềuNgự GiácHoàng;thiềnsư Pháp Loa(1284-1330)và thiềnsư Huyền Quang(1254-1334).Vĩnh Nghiêm được xây dựng từ thời Lý, mở rộng vào thời kỳ phật giáo ở vào giai đoạn cực thịnh khoảng thế kỷ 13 triều nhà Trần. Tương truyền vua Trần Nhân Tông sau khi trút bỏ hoàng bào đến tu hành tại núi Yên Tử, trong một lần đi qua vùng đất này thấy cảnh trí non xanh, nước biếc, làng quê trù phú và là vùng đất có vị trí chiến lược nên đã ngự lại chùa mở trường thuyết pháp đào tạo tăng đồ. Do đó Vĩnh Nghiêm trở thành trung tâm phật giáo lúc bấy giờ. Sau Trần Nhân Tông, hai vị hành giải học trò của ngài là Pháp Loa và Huyền Quang cũng từng trụ trì tại đây. Chính vì vậy lịch sử phát triển của chùa gắn liền với sự hình thành và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và được coi là trường đại học phật giáo đầu tiên ở Việt Nam…vai trò của Vĩnh Nghiêm được khẳng định trong câu ca:“Ai qua Yên Tử, Quỳnh LâmVĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành”Cho đến ngày nay Vĩnh Nghiêm vẫn có vị trí quan trọng trong việc gìn giữ, phát huy vốn văn hóa cổ truyền thống. Đặc biệt tại chùa hiện lưu giữ 3050 bản ván khắc chữ Hán và chữ Nôm gồm các bộ kinh sách nhà Phật, sự nghiệp, trước tác của các vị cao tăng có nhiều cống hiến cho sự phát triển của phật giáo, của dân tộc Việt Nam cùng nhiều sách hướng dẫn cách chữa bệnh bằng những cây thuốc dân gian...Đây là bộ sách có giá trị vô cùng to lớn trong nghiên cứu về phật học, khoa học, văn học và lịch sử, trong đó nhiều bộ sách độc bản chỉ còn lại duy nhất ở Vĩnh Nghiêm như bộ sách chữ Nôm “Thiền tông bản hạnh”. Đây là tác phẩm nổi tiếng có giá trị về sự lịch sử phát triển chữ Nôm, ngôn ngữ và văn học Việt Nam. Ngoài ra chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật có giá trị như: Hệ thống tượng phật, bia đá, hoành phi, câu đối… Năm 1964 Chùa Vĩnh Nghiêm đã được Nhà nước xếp hạng là di tích Lịch sử-Văn hóa cấp quốc gia …Hằng năm, chính quyền và người dân địa phương tổ chức hội chùa vào ngày 14 tháng 2 âm lịch. Đến với Vĩnh Nghiêm du khách có thể tìm hiểu về đạo Phật, kỹ thuật khắc gỗ để từ đó hiểu thêm về lịch sử, văn hóa, con người Việt Nam…Thắp nén hương thơm, lòng thành hướng Phật, hướng về tổ tông và chầm chậm du khách sẽ thanh thản vãn cảnh chùa trong không gian thanh tịnh thoang thoảng mùi trầm, mùi hương của những cây Lan, cây Đại được trồng rất nhiều trong chùa, trong đó có những cây được trồng từ hơn 300 năm trước. Hay chiêm ngưỡng cây hoa có cái tên thật lạ “Hoa nhập nhân” có niên đại khoảng 700 năm được trồng ngay sau Nhà tổ đệ nhất... Về với Vĩnh Nghiêm về với chốn tổ để đắm mình trong khung cảnh của làng quê thanh bình và nếu muốn du khách cũng có thể thưởng thức bữa cơm chay với nhà chùa….Sau đây là một số hình ảnh chùa Vĩnh Nghiêm. Khối kiến trúc thứ nhất gồm: Toà Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện Khối thứ 2 là Nhà tổ đệ nhất- Nơi thờ 3 vị Trúc Lâm Tam Tổ Khối thứ ba là gác chuông Nhìn từ gác chuông chùa Vĩnh NghiêmTrong chùa lưu giữ kho mộc kinh gồm 3050 bản ván khắcẢnh : Xuân San, Hà Yến
Hôm nay, bất chợt đọc được một bài viết cá nhân của một du khách tên Phạm Hải Yến trên trang Facebook về vùng đất An Lạc, tôi lại nhớ về những chuyến đi trên mảnh đất An Lạc một vùng đất “xa xôi” mà “bình yên”. Nói là “xa xôi” nhưng An Lạc cũng đâu phải xa lắm. Chỉ cách Hà Nội khoảng 180 km, An Lạc là xã cuối cùng của huyện Sơn Động vốn là huyện cuối cùng trong bản đồ hành chính Bắc Giang. Điểm cuối cùng ấy cũng là điểm gặp nhau của ba tỉnh Bắc Giang – Quảng Ninh - Lạng Sơn là nơi giao lưu văn hóa của những nhóm dân tộc khác nhau, và cũng là nơi hội tụ non nước với sông Lục Nam uốn mình qua bờ Tây Yên Tử để tạo nên những cảnh quan thiên nhiên đầy hoang xơ nhưng vô cùng cuốn hút.