Hành hương về Tây Yên Tử
Xuyên qua những con đường mòn ẩn hiện trong rừng trúc, vượt qua vách núi cheoleo, những ngôi chùa, am, tháp... gần 700 năm tuổi và dấu tích còn lại của nó hiệnra trong mây mù bạt ngàn của rừng núi Tây Yên Tử.
Các bài viết mới nhất về Du lịch Bắc Ninh.
Xuyên qua những con đường mòn ẩn hiện trong rừng trúc, vượt qua vách núi cheoleo, những ngôi chùa, am, tháp... gần 700 năm tuổi và dấu tích còn lại của nó hiệnra trong mây mù bạt ngàn của rừng núi Tây Yên Tử.
Song Vân là vùng đất cổ đã ghi dấu ấn vang dội trong lịch sử đấu tranh của dân tộc. Con người Song Vân luôn nêu cao tinh thần đoàn kết tương thân tương ái vượt qua mọi khó khăn chống lại kẻ thù xâm lược viết lên những trang sử hào hùng, chói lọi. Trong quá trình xây dựng, phát triển quê hương con người nơi đây đã gây dựng được một hệ thống di sản văn hoá phong phú mang đậm giá trị nhân văn truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nói đến Song Vân phải nói đến khu di tích đình Vồng với lễ hội dân gian truyền thống điển hình của vùng đất Yên Thế - Tân Yên. Khu di tích đình Vồng gồm một quần thể di tích cổ với đầy đủ các loại hình như: đình Vồng, chùa Vồng, đền Vồng, nghè Vồng, ngòi Vồng và cầu Vồng. Đình Vồng xưa thuộc xã Vân Cầu, tổng Vân Cầu, phủ Yên Thế. Ngày nay, khu di tích này nằm trên phần đất của thôn Ngò, xã Song Vân, huyện Tân Yên.
Chùa Am Vãi là ngôi chùa cổ nằm ở gần đỉnh núi của dãy núi Am Ni, bên trái con sông Lục Nam, ở khu vực thị trấn Chũ nhìn sang.
Làng Kế là ngôi làng cổ thuộc xã Dĩnh Kế của thành phố Bắc Giang ngày nay. Xã có mười một thôn, trong đó có sáu thôn làm bánh đa. Người dân trong vùng thường gọi là bánh Kế, bởi bánh đa của làng Kế làm ra có hương vị đặc trưng không giống với bánh đa ở bất cứ nơi đâuNgười dân làng Kế làm bánh đa quanh năm, đặc biệt nhộn nhịp vào những lúc nông nhàn. Ban đầu nghề làm bánh đa chỉ là một nghề phụ của người dân, dần dần được chuyên nghiệp hoá trong nhiều gia đình. Họ đã có được lợi nhuận và niềm say mê từ món quà quê rất đỗi thân thuộc này.Bánh đa Kế có từ lâu đời, là một sản phẩm truyền thống chứa đựng sự công phu, khéo léo và tinh tế của người dân. Làm bánh theo kiểu của người Kế thoạt nhìn rất đơn giản, nhưng thực ra lại đòi hỏi sự công phu, khéo léo. Nguyên liệu chính để làm bánh đa Kế là gạo, phải chọn loại gạo ngon, để lâu ngày, khi ấy nhựa gạo chuyển hoá thành một dạng thức khác, nó cô đọng và hoà tan vào những hạt gạo trắng trong. Người ta vo gạo rất nhẹ nhàng, làm sao cho vừa sạch lại vừa bảo đảm những bụi cám vẫn còn dính trên hạt gạo ấy. Sau đó đem gạo ngâm nước, ngày xưa người ta thường ngâm vào những chậu bằng sành, gốm cho đến khi hạt gạo có vị chua và căng mọng lên đem vớt ra để cho ráo nước rồi cho vào xay. Ngày nay người ta xay gạo bằng máy, dễ dàng hơn trước kia rất nhiều, trước đây người dân xay gạo bằng cối đá rất vất vả và công phu. Phải xay gạo thật nhuyễn, hạt gạo hoà cùng những giọt nước trong trẻo tan ra thành bột mịn và trắng muốt. Cũng có khi người ta còn làm thành cơm rồi mới đem xay cùng với gạo, lúc đó cơm sẽ được dàn ra cho nguội, không được nát và cũng không quá cứng. Xay gạo cùng với cơm làm cho bánh đa có độ dẻo cần thiết.Sau khi xay bột, người dân làng Kế tráng bánh, kiểu làm không khác tráng bánh cuốn là mấy, có điều tráng bánh đa phải dầy hơn, độ chín của bánh đa cũng cần phải kỹ càng hơn. Điều đặc biệt là ở bánh đa Kế, người ta tráng bánh hai lần. Lần đầu khi bánh chín rồi nhưng còn ướt, họ vẫn để bánh trên mặt miếng vải ấy, rồi lại tiếp tục đổ thêm một lượt bột lên trên đợi đến khi chín mới đưa ra. Bánh được tráng hai lần sẽ bảo đảm độ dầy dặn.Khi bánh chín, người ta lấy bánh ra rất khéo léo để bánh không bị rách hoặc méo mó. Người làm bánh đa dùng một ống nứa dài và to đặt lên một đầu chiếc bánh rồi quấn lại một cách nhẹ nhàng khoảng nửa vòng rồi từ từ đặt miếng bánh xuống một chiếc phên và gỡ bánh ra.Trước khi đem phơi bánh đa, người ta rắc một lượt vừng đen cùng lạc sống giã giập lên trên. Kỹ thuật rắc vừng, lạc cũng đòi hỏi sự chuyên nghiệp, khi rắc họ lấy tay nhúm lấy những hạt vừng rồi rắc đều lên trên mặt bánh đa, nhưng họ rắc tập trung dày đặc ở tâm chiếc bánh đa. Lại có gia đình cho lạc giã giập hoà cùng bột nước đem tráng lên khuôn.Khi phơi bánh đa, người làng Kế đặt lên trên những tấm phên đan bằng nứa, phên phải phẳng phiu, kích thước không được nhỏ hơn bánh đa khi mang từ khuôn ra. Khi bánh se mặt và vẫn còn dẻo, phải kịp thời gỡ bánh cho khỏi dính vào phên tránh bị vỡ, hoặc thủng, rồi mới lật bánh sang mặt bên kia và phơi tiếp cho đến khô. Khi khô bánh được bảo quản rất cẩn thận. Ngày xưa người ta để bánh vào nơi thoáng mát, cao ráo để tránh ẩm, nay thường xếp bánh vào túi nilông buộc chặt.Trước khi bánh đa Kế đến với người tiêu dùng còn phải thông qua khâu nướng bánh. Đây là công đoạn cuối cùng, phức tạp và đòi hỏi sự tinh tế, kinh nghiệm. Người ta đốt những viên than củi lên, khi những viên than đã bén lửa họ đặt những chiếc bánh đa lên trên chậu than hồng. Một tay cầm bánh đa, một tay cầm chiếc quạt nan. Người nướng phải quạt đều tay, liên tục, những chiếc bánh đa được lật đi lật lại thoăn thoắt, mùi hương thơm toả ra tạo một cảm giác dễ chịu. Thi thoảng họ dừng lại uốn những chiếc bánh cho khỏi bị vênh. Thường người nướng bánh là các bà, các chị với đôi bàn tay nhanh nhẹn, linh hoạt và hết sức kỹ thuật. Nướng bánh đa phải quan sát rất tập trung, phải biết đặt chỗ nào lên trên chậu than hồng ấy, chỗ nào được và chưa được. Quan trọng nhất là người nướng phải biết dừng lại lúc nào, tức là khi bánh đã được rồi thì đưa ra ngay nếu không rất dễ bị cháy. Chiếc bánh đa ngon phải mở phồng, vàng rộm được tô điểm thêm bởi những hạt vừng đen như những vật trang trí làm nổi bật hình thức chiếc bánh.Khi thưởng thức, những chiếc bánh đa có vị bùi, ngọt, giòn và thơm lừng. Từng miếng bánh đa giòn tan trong miệng khiến ta có cảm giác như hương vị quê hương đang dạt dào theo tiết tấu âm thanh quen thuộc mà đáng quý biết nhường nào. Hương vị của miếng bánh đa Kế là hương vị của quê hương xứ sở, là công sức cha ông đã hun đúc và sẽ còn mãi với thời gian./.Theo Báo Bắc Giang
Cách đây khoảng hơn chục năm, tôi có tham gia một lớp tập huấn nghiệp vụ ở tại Thủ đô Hà Nội, lớp học của chúng tôi rất đông, thành phần đủ các tỉnh thành, thời gian học tập, sinh hoạt cùng nhau tuy không dài, nhưng đã gắn kết chúng tôi thành những người bạn thân thiết. Kết thúc khóa học, mọi người ai cũng bịn rịn, lưu bút chia tay hẹn ngày tái ngộ. Thời gian cứ thấm thoát trôi đi, mọi kỷ niệm cũng dần trở thành ký ức. Rồi đến một ngày kia khoảng cuối năm Quý tỵ 2013, bỗng nhiên tôi nhận được điện thoại, thông báo rằng vào cuối tuần này mọi người sẽ đến Bắc Giang thăm tôi, chương trình của đoàn là đi thăm chùa Vĩnh Nghiêm và một số điểm du lịch trong tỉnh Bắc Giang, tiếp theo đoàn sẽ đến thăm trang trại đang nuôi Vịt trời ở huyện Lục Nam, theo như mọi người được biết thì hiện nay ở huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang đang thịnh hành và phát triển mô hình chăn nuôi vịt trời, loại hình chăn nuôi vịt trời này rất phù hợp với địa hình, khí hậu của một số vùng trong nước, nghề này không tốn nhiều công sức, chi phí đầu tư không lớn nhưng mang lại hiệu quả kinh tế rất cao.
1. Vịnh Hạ Long – Quảng Ninh Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động. Hàng ngàn đảo đá nhấp nhô trên sóng nước lung linh huyền ảo, vừa khoẻ khoắn hoành tráng nhưng cũng rất mềm mại duyên dáng, sống động. Đi giữa Hạ Long với muôn ngàn đảo đá, ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá. Đảo thì giống hình ai đó đang hướng về đất liền - hòn Đầu Người; đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước - Hòn Rồng; đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá - hòn Lã Vọng; và kia hai cánh buồm nâu lực lưỡng đang rẽ sóng nước ra khơi - hòn Cánh Buồm; rồi hai con gà đang âu yếm vờn nhau trên sóng nước - hòn Trống Mái; đứng giữa biển nước bao la một lư hương khổng lồ như một vật cúng tế trời đất - hòn Lư Hương... Tất cả đều rất thực, thực đến kinh ngạc.Trong lòng các đảo đá trên vịnh còn có những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Sửng Sốt, hang Trinh Nữ, động Tam Cung...Ngày 11/11/2011, Vịnh Hạ Long chính thức lọt vào danh sách 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới do Tổ chức New7Wonders tổ chức.2. Vịnh Lăng Cô – Huế Thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên - Huế) là một vùng đất giàu tiềm năng bởi thiên nhiên, phong cảnh đẹp. Đèo Hải Vân, non xanh nước biếc, núi chạy dài ra sát mép biển. Bên dưới là bãi tắm Lăng Cô phẳng lì, gần như nguyên sơ, nước xanh trong. Nhiều du khách khi tới Huế, được đắm mình trong khung cảnh ở Lăng Cô đã nói rằng "Lăng Cô đẹp hơn tranh thủy mặc". Lăng Cô lại là một vùng biển hiền hòa, nguyên sơ với một dải cát trắng mịn, mặt nước biển xanh trong. Trước đây, người ta biết đến Lăng Cô như một điểm dừng chân của khách trước khi qua đèo, với vài dãy hàng cơm, một vài điểm bán hàng hải sản khô lèo tèo. Từ khi hầm đường bộ Hải Vân được khởi công xây dựng, thị trấn Lăng Cô mới trở nên nhộn nhịp hơn. Từ Lăng Cô, vào những ngày đẹp trời, có thể phóng tầm mắt chiêm ngưỡng cảnh quan khu vườn quốc gia Bạch Mã. Lăng Cô còn có đầm Lập An. Cứ mỗi chiều, từng đàn cò trắng nhấp nhô bay về đầm tìm chỗ ngủ.Hiện nay, Vịnh Lăng Cô đã chính thức trở thành thành viên thứ 30 của Câu lạc bộ các vịnh biển đẹp nhất thế giới (Worldbays Club).3. Vịnh Nha Trang – Khánh Hòa Được che chắn bởi 19 đảo lớn nhỏ, vịnh Nha Trang rộng chừng 500km2 khá kín gió, không có sóng lớn. Trong vịnh Nha Trang có gần mười đảo yến, hằng năm việc khai thác yến sào mang về hàng triệu USD cho tỉnh Khánh Hòa. Dưới mặt vịnh Nha Trang lại có một thế giới kỳ thú khác, đó là thế giới của 350 loài san hô, 190 loài cá, các loài nhuyễn thể, giáp xác, cỏ biển... Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ. Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới.Tháng 7 năm 2003. cùng với Vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang chính thức công nhận và xếp hạng là một trong 29 Vịnh đẹp nhất trên thế giới.4. Vịnh Ninh Vân – Nha Trang Ninh Vân là một hòn đảo xinh đẹp nằm trong quần thể vịnh Nha Trang. Nằm cách Nha Trang hơn 60km, thuộc bán đảo Hòn Hèo, huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa, Ninh Vân vốn được gọi là xã đảo vì không có đường bộ, muốn đi đến đây, duy nhất chỉ có tàu từ Nha Trang qua lại bằng đường biển. Mất khoảng 18 phút đi tàu cao tốc từ thành phố Nha Trang. Từ tàu cao tốc hướng vào bờ, Ninh Vân không phải là một khu nghỉ mát sang trọng, lộng lẫy như hình dung thông thường. Cảnh thiên nhiên ở đây gần như được giữ nguyên bản với những gì tự nhiên và hoang sơ nhất. Ninh Vân yên bình như một ốc đảo cổ tích xanh mướt hoa cỏ, thiên đường này sở hữu những rặng núi cao, rừng cây xanh ngút tầm mắt. Bãi biển cát trắng nguyên sơ, biển xanh như ngọc hay những rặng san hô ngầm đầy kỳ thú cũng là những yếu tố chính thu hút khách du lịch đến với Ninh Vân. Nơi đây chỉ thấy những ngôi nhà gỗ nhỏ nằm ngay sát mé bờ biển, trên đá hoặc chếch trên đồi… Chỉ cần vài bước chân, bạn đã có thể xuống biển, để cảm nhận rõ hơn hương vị mằn mặn của biển, hay đơn giản là đùa nghịch với làn nước trong xanh và mát lạnh. Chèo kayak, câu cá hay lên chiếc thuyền gỗ ra xa xa ngắm hoàng hôn xuống dần, để thấy nhịp sống dường như chậm lại, thư thái. Mạo hiểm hơn một chút, bạn có thể tham gia lặn biển, ngắm nhìn những rặng san hô tuyệt đẹp với hệ sinh thái biển phong phú. Tất cả làm nên một ấn tượng đặc biệt với những du khách lần đầu tiên đến nơi đây.5. Vịnh Vĩnh Hy – Ninh Thuận Vịnh Vĩnh Hy thuộc làng Vĩnh Hy, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, cách trung tâm thành phố Phan Rang (tỉnh Ninh Thuận) chừng 40km. Từ Phan Rang, du khách sẽ lên thuyền thực hiện hành trình khám phá vịnh Vĩnh Hy. Vịnh Vĩnh Hy được bao bọc bởi những ngọn núi có nhiều hang động kì thú, khí hậu thiên nhiên trong lành, đặc biệt là làn nước xanh và trong đến mức bạn có thể nhìn thấy từng đàn cá cơm bơi quanh mạn thuyền. Thuyền đưa du khách từ từ rẽ sóng hướng ra biển, đến với vịnh Vĩnh Hy trong mênh mang trời xanh, nước biếc. Vịnh Vĩnh Hy được đánh giá là điểm đến đầy hấp dẫn. Ngồi trên thuyền, giữa lòng vịnh mênh mông, hướng mắt về phía Nam, du khách sẽ thấy những bãi cát dài lượn cong ven chân núi.Hiện nay, tại Vĩnh Hy đã có nhiều loại hình du lịch biển hấp dẫn, đặc biệt là thú vui đi tàu đáy kính ngắm san hô và cá dưới đáy biển... Tại khu bảo tồn biển Vĩnh Hy có 307 loài san hô quý hiếm, trong đó có 50 loài mới được phát hiện ở Việt Nam. Nếu gặp thời tiết thuận lợi, du khách có thể tham gia một tour lặn biển để được tận mắt chứng kiến những rạn san hô đầy màu sắc dưới đáy biển.6. Vịnh Xuân Đài – Phú Yên Từ thành phố Tuy Hòa - Phú yên, đi theo quốc lộ 1A về hướng bắc chừng 45km, vịnh xuân Đài hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Vịnh được tạo thành bởi một dãy núi chạy dài ra biển khoảng 15km trông giống hình đầu của một con kì lân. Ít có vịnh nào sự đa dạng đan xen về địa hình như vịnh Xuân Đài. Ghềnh nối tiếp vũng, vũng nối tiếp bãi, bãi nối tiếp núi, uốn lượn trùng điệp. Chỉ riêng vũng đã có hàng chục cái, to nhỏ, nông sâu khác nhau. Xuân Đài cũng có rất nhiều núi, đảo và bán đảo, nơi nào cũng đẹp một cách hoang sơ.Một nét độc đáo khác của vịnh Xuân Đài là những bãi cát sạch mịn màng, sạch đẹp còn nguyên dáng vẻ hoang sơ như: bãi Than, bãi Vũng Lắm, bãi Trước, bãi Sau, bãi Tràm, bãi Nồm, bãi Ôm, bãi Rạng, bãi Trầu, bãi Nhỏ, bãi Nhàu... Ấn tượng hơn cả là bãi Bình Sa hay còn gọi là bãi Dài. Từ biển nhìn vào, bãi Dài như một dải lụa trắng óng ả chạy dài 5 km, ven những rừng dừa, rừng dương và những ngọn đồi lúp xúp.Nằm trong danh sách đề cử những vịnh đẹp nhất thế giới, Vịnh Xuân Đài là một trong những thắng cảnh tiêu biểu ở Phú Yên7. Vịnh Vũng Rô – Phú Yên Nhìn trên bản đồ Phú Yên, ở góc đông nam có một bán đảo hình dáng như đầu con chim với chiếc mỏ nhọn. Bán đảo ấy được hình thành bởi núi Vũng Rô làm cho bờ biển cao và dốc, ghềnh đá ngổn ngang tạo ra nhiều mũi, phía đông có mũi Mao, mũi Ba, phía nam có mũi La. Vịnh Vũng Rô rộng 1640ha mặt nước, vịnh có 12 bãi nhỏ: Bãi Lách, Bãi Mù U, Bãi Ngà, Bãi Chùa, Bãi Chân Trâu, Bãi Hồ, Bãi Hàng, Bãi Nhỏ, Bãi Chính, Bãi Bàng, Bãi Lau, Bãi Nhãn với phong cảnh sơn thủy hữu tình, quyến rũ tuyệt vời cho tham quan, tắm biển. Trong lòng biển của Vũng Rô có nhiều loài hải sản, dưới đáy biển là những rạn san hô màu rất hấp dẫn cho các loại hình du lịch câu cá, bơi, lặn.Các bán đảo này ôm lấy Vũng Rô, tạo nơi đây thành một cảng biển tốt, để tàu thuyền neo đậu, tránh bão, đánh bắt cá. Vũng Rô được các dãy núi Đèo Cả, Đá Bia, Hòn Bà che chắn cả 3 hướng bắc, đông, tây. Phía nam là cửa biển có đảo Hòn Nưa cao 105m như một pháo đài canh gác cho tàu bè ra vào.8. Vịnh Hà Tiên – Kiên Giang Vịnh Hà Tiên (Kiên Giang) có đến 105 đảo lớn nhỏ, trong đó có xã đảo Hòn Nghệ, nơi đang phát triển nghề nuôi cá bè trên biển và có nhiều thắng cảnh du lịch. Thiên nhiên ưu ái ban tặng cho Hà Tiên một tổng thể hài hòa: núi, biển, đảo và đồng bằng kết hợp thành một vùng đất đẹp như tiên cảnh. Biển Hà Tiên cũng rất dồi dào sản vật ngon và lạ. Có lẽ chính vì vậy mà du khách thích đến với Hà Tiên để ngắm cảnh, để ăn hải sản. Không khó lý giải khi Hà Tiên thu hút lượng khách tham quan đông nhất ở đồng bằng Sông Cửu Long.9. Vịnh Cam Ranh – Khánh Hòa Từ lâu người ta chỉ biết Cam Ranh như một hải cảng quân sự hơn là một nơi có tiềm năng du lịch. Trong khi thực tế, thiên nhiên Cam Ranh quá đẹp, rất lý tưởng cho việc xây dựng một khu du lịch biển tầm cỡ thế giới. Vịnh Cam Ranh đích thực là một kỳ quan thiên nhiên. Nằm cách thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) 60km về phía nam, vịnh Cam Ranh trải dài như một dải lụa xanh thẳm đẹp đến mê hồn. Vịnh Cam Ranh quanh năm nắng ấm chan hòa, bầu trời trong xanh tạo cho mặt vịnh một màu xanh rất dễ chịu.Thiên nhiên ở vịnh Cam Ranh đẹp gần như còn nguyên sơ: những bãi cát trắng vàng, trải dài mịn màng như chưa bao giờ có dấu chân người, dưới lòng vịnh có những rặng san hô và những đàn cá nhiều màu sắc rất đẹp mắt. Nhưng đẹp nhất vẫn là những quần thể ghềnh đá granit do sự xâm thực của gió, của nước biển đã tạo nên những hình thù chồng chất.Vịnh còn có nhiều bãi tắm hoang sơ tuyệt đẹp, bên cạnh những rặng dừa xanh cao vút, tạo nên nét đặc trưng của miền duyên hải Trung Bộ.Vịnh Cam Ranh là nơi lý tưởng để tổ chức các loại hình du lịch biển quốc tế như: bơi thuyền, câu cá, lặn biển xem san hô, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, leo núi... không thua kém bất cứ nơi nào trên thế giới.10. Vịnh Vân Phong – Khánh Hòa Vịnh Vân Phong thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang khoảng 80km về phía bắc.Vịnh Vân Phong là một vùng vịnh rất rộng và kín đáo.Vịnh có địa hình rất phong phú, đặc biệt là hệ thống đảo, bán đảo, vịnh sâu kín gió, bờ và bãi biển, cồn cát hấp dẫn và là khu vực có hệ sinh thái đa dạng như rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, động thực vật ven biển….Vịnh có những bãi tắm tuyệt đẹp, hoang sơ cát trắng mịn, nước biển trong vắt như Bãi Tây, Bãi Me, Bãi Búa, Bãi Lách, Bãi Xuân Đừng… Các đảo đẹp trong vịnh phỉa kể đến: Hòn Đỏ, Hòn Ông, Hòn Cổ, Hòn Nước, hòn Bịp ( Điệp Sơn), đi lùi xuống phía nam của vịnh có Đầm Môn, Hòn Gốm….Trong những năm gần đây, vịnh Vân Phong đã tạo được sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu và khai thác du lịch trong, ngoài nước. Nguồn: Yeudulich.vn
Cách TP Bắc Giang hơn 15 km, trên núi Dành có nhiều thông, keo vi vu. Đây là địa danh từng được nhắc tới trong sách "Đại Nam nhất thống chí", trong đó có đoạn: “Núi Chung Sơn ở xã Bảo Lộc, thuộc địa giới Yên Thế sản xuất ra sâm Nam và cỏ Thi”. Quần thể khu du lịch này gồm nhiều công trình như: Đền Trình, đền Hạ, đền Thượng, chùa Không Bụt, đình Vường và hơn 30 ha rừng thông, keo, bạch đàn có độ tuổi trên chục năm, tạo thành một không gian văn hóa tâm linh, sinh thái thu hút đông đảo người dân đến hành hương, thưởng ngoạn.
Trên địa bàn huyện Hiệp Hòa hiện có 24 lăng đá cổ (nhiều nhất tỉnh Bắc Giang), trong đó có không ít công trình được các nhà nghiên cứu đánh giá tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc đá thời Lê ở Việt Nam. Mặc dù tiềm năng lớn nhưng hầu như hoạt động du lịch của địa phương chưa có chuyển biến.
Bình thường mặt hồ rộng 2.600 ha nhưng đến mùa mưa, lũ nhiều, nước dâng cao, mặt hồ lúc này có thể rộng đến 3.000 ha. Chiều dài của hồ gần 30 km, bề ngang nơi rộng nhất 7 km, chỗ hẹp nhất 200 m, lòng hồ nơi sâu nhất đến khoảng 47m, hồ có rất nhiều đảo. Điều đặc biệt bờ của hồ chính là những ngọn núi điệp trùng, bao bọc. Cư dân sống gần hồ là những bản làng người dân tộc Nùng, Tày và Kinh. Nhân dân vùng chung quanh hồ chủ yếu là dân tộc. Người dân ở đây đi lại chủ yếu bằng thuyền, và giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo tạo những cảnh quan sơn thủy hữu tình. Chính vì vậy mà có câu: “ Áo chàm xuống núi bơi thuyền/ Khăn nam phân phất như tiên dưới trần”.Để đến được hồ Cấm Sơn du khách có khá nhiều đường khác nhau, song thuận lợi hơn cả là con đường từ thị trấn Chũ, ngược theo đường 297 qua đèo Váng, đến Tân Sơn đi theo con đường đất đỏ với những khúc cua tay áo liên tiếp, men theo những bản làng người Nùng, người Sán Chí, người Dao là đến Cấm Sơn, hoặc từ thành phố Bắc Giang ngược theo quốc lộ 1A qua huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn rồi rẽ phải khoảng gần 5km thì đến đập Cấm Sơn. Tại các điểm này đều có thuyền máy để du khách thưởng ngoạn cảnh đẹp của hồ với sự hướng dẫn của chủ thuyền. Cảm giác chòng chành khi mới xuống thuyền dần nhường chỗ cho sự thích thú trước không gian ngày càng rộng mở của hồ.Theo anh Hoàng Văn Viên- một người dẫn đường thì: Người dân sống quanh hồ Cấm Sơn đến nay vẫn truyền tụng những câu chuyện huyền thoại, ly kỳ về sự tích núi Ba Hòn, suối Cấm, suối Mọc, suối Vảy Rồng, núi Kỉn, làng Mấn, đảo Lăn Lóc... Những câu chuyện kể mang màu sắc huyền thoại đã thổi hồn vào cảnh vật làm cho từng dãy núi, khu rừng bao bọc xung quanh mặt nước trở nên hữu tình ít nơi có được. Buổi sớm mai là thời gian thích hợp nhất để chiêm ngưỡng cảnh sắc, không gian mặt hồ Cấm Sơn. Những làn sương sớm phủ màu trắng đục huyền ảo trên mặt hồ dần tan vào sóng nước khi mặt trời ló rạng. Mặt hồ gợn sóng lấp lánh trong nắng sớm, vài chiếc thuyền nan lướt qua, chợt nao nao một nỗi niềm bâng khuâng xa vắng như văng vẳng câu ca của nhạc sĩ Phó Đức Phương “Thuyền ta ngược, thuyền ta xuôi, giữa dòng nước bạc, nhịp chèo ta bơi…”Được hoà mình vào thiên nhiên hoang sơ, cảm nhận bầu không khí trong lành, cảm nhận vẻ đẹp và thấy yêu quý thiên nhiên hơn. Lúc này, con người cảm thấy mình thật bé nhỏ giữa thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ khi đứng trước một bức tranh thủy mặc làm nao lòng người. Cũng có lý khi có người đã ví hồ Cấm Sơn giống như một Vịnh Hạ Long thu nhỏ, một chiếc máy điều hòa không khí khổng lồ cho miền sơn cước Lục Ngạn.Nếu đến Cấm Sơn vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 7, du khách còn có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của vùng đồi Lục Ngạn đỏ rực khi mùa vải chín. Thưởng thức những quả vải đỏ mọng, ngọt lịm đến tê đầu lưỡi và hòa vào không khí của một mùa thu hoạch của người dân vùng đồi.Không chỉ vậy, lòng hồ Cấm Sơn bao la cho nhiều cá tôm, vào những đêm trở trời, những chiếc vó của đồng bào dân tộc nơi đây có thể bắt được vài trăm kg cá một mẻ, đã từng có những con cá nặng đến 40-50 ký. Nên khi đến đây, du khách có thể được thưởng thức những món ăn dân dã nhưng không kém phần hấp dẫn của vùng đất này đó là món tôm hồ mới nướng, món gà đồi luộc thơm mùi lá chanh, món măng rừng luộc chấm muối ớt và nhâm nhi chén rượu Kiên Thành trên đảo nhỏ…Để rồi khi chia tay Cấm Sơn, chúng tôi cũng như nhiều du khách khác sẽ có cảm giác như bâng khuâng, tiếc nuối và mong có dịp trở lại nơi này./.
Vườn tháp chùa Bổ ĐàThiền phái Lâm Tế được truyền vào nước ta từ những năm cuối thế kỷ 17 gắn liềnv ới sự kiện phái đoàn hoằng pháp của Thiền sư Thạch Liêm - Đại Sán sang nước ta truyền giới theo lời thỉnh cầu của Quốc chùa Nguyễn Phúc Chu. Hoà Thượng Thạch Liêm cùng Hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm, Linh Mụtại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Ở xứ Kinh Bắc, có hai chốn tùng lâm sớm ảnh hưởng và tiếp nhận dòng Lâm Tế là chùa Bổ Đà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và chùa Bảo Quang (còn gọi là chùa Bách Tháp) ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Hai sơn môn này đều được phát triển từ nửa đầu thế kỷ 18 và là nơi được nhiều tăng ni thuộc phái Lâm Tế ở miền Bắc nước ta trọn làm nơi an nghỉ vĩnh hằng. Chính vì thế, hai ngôi chùa này là hai danh lam cổ tự có vườn tháp nhiều ngôi nhất nước ta. Tuy nhiên, do hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, nhiều ngôi tháp chùa Bảo Quang (tức chùa Bách Tháp) bị mai một nay chỉ còn mấy chục ngôi... Trong khi đó, vườn tháp chùa Bổ Đà vẫn còn nguyên vẹn, và nay trở thành vườn tháp cổ và có quy mô rộng lớn. Vườn tháp chùa Bổ Đà nơi tàng lưu xá lị, tro cốt nhục thân của các tăng ni dòng thiền Lâm Tế nằm ở bên trái khu Nội tự và Vườn chùa. Đó là bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của núi Bổ Đà có diện tích gần 8.000m2. Bao quanh vườn tháp nhà chùa đã dùng đá núi, gạch chỉ và đất tạo nên bức trường để giữ gìn yên tĩnh giấc ngủ ngàn thu cho các những nhà tu hành đắc đạo. Nhiều du khách đến thăm vườn tháp chùa Bổ Đà không khỏi ngạc nhiên trước sự mênh mông rộng lớn của vườn tháp, nhất là số lượng các ngôi tháp ở đây quả xứng đáng được liệt danh vào cuốn sách ghi kỷ lục của nước nhà. Qua gần ba trăm năm hưng thịnh, và kể từ khi sư tổ có tên tục là Phạm Kim Hưng viên tịch đến nay, sơn môn Bổ Đà đã xây dựng tất cả 97 ngôi tháp, mộ lớn nhỏ. Trong vườn tháp ta thấy đa số là những ngôi tháp ba, bốn tầng với độ cao từ từ ba đến năm mét, riêng mấy ngôi tháp sư tổ thì đồ sộ cao rộng hơn nữa. Tàng chứa trong gần 100 ngôi tháp cổ là mộ, xá lị, tro cốt của trên 1200 nhà sư tu hành đắc đạo của dòng Lâm Tế khắp nơi trên cả nước từ gần ba thế kỷ nay. Điều độc đáo mà du khách được chiêm bái ở vườn tháp chùa Bổ Đà, đó là trong vườn có cả tháp mộ sư tăng, sư ni (điều hiếm thấy ở các dòng phái khác). Tháp mộ sư tăng trên đỉnh tháp bao giờ cũng gắn bình cam lộ đặt trên tòa sen. Tháp sư ni thì khác, đỉnh tháp mộ lại được gắn một búp sen...Như thế, Phật tử có thể đến vãn cảnh vẫn biết được có bao nhiêu vị tăng, ni viên tịch và yên nghỉ ở chốn này. Các ngôi tháp chùa Bổ Đà đều được kiến tạo bằng đá và gạch chỉ được bít mạch dùng vôi vữa trộn với mật mía và bột giấy bản nên rất bền và mịn. Đa số các ngôi tháp đều có tên, trong lòng tháp thường đặt bia ghi bài vị và ghi thời gian sinh, hóa của các nhà sư, cho nên mỗi ngôi tháp đều là những nguồn tư liệu chân thực giúp các nhà nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về Phật phái Lâm Tế nói chung, lịch sử chùa Bổ Đà nói riêng. Quang cảnh chùa Bổ Đà nhìn từ trên caoXưa nay, vườn tháp được xem như một công trình kiến trúc góp phần tôn vinh giá trị cho danh lam cổ tự và thu hút đông đảo khách thập phương đến du ngoạn cảnh chùa. Vườn tháp cùng hệ thống kiến trúc độc đáo phần nội tự, hệ thống cổng chùa, tường đất cũ kỹ rêu phong, vườn cây đại thụ chùa Bổ Đà thật xứng danh là ngôi chùa mang đậm bản sắc văn hóa Việt. Hội chùa Bổ Đà từ ngày 16 tháng 2 đến ngày 18 tháng 2 hàng năm. Vào ngày hội khách thập phương thường đến rất đông. Để đi tới Chùa Bổ, từ Hà Nội đi tới thành phố Bắc Ninh, qua cầu Thị Cầu rẽ trái men đê sông Cầu 3 km là tới. Hoặc tới Thổ Hà đi tiếp theo hướng Bắc tới làng Lát rẽ phải, từ Thổ Hà tới Chùa Bổ là 3 km. Đến thăm Chùa Bổ là du khác đã được chiêm ngưỡng một địa điểm du lịch nổi tiếng của đất Kinh Bắc xưa và của tỉnh Bắc Giang ngày nay.
Lễ hội là một hình thái sinh hoạt văn hoá cộng đồng của làng xã Việt Nam. Từ bao đời nay, lễ hội đã gắn liền với những phong tục, luật tục của làng xã, vốn văn học nghệ thuật dân gian và tinh thần đoàn kết đấu tranh chống thiên nhiên, chống kẻ thù xâm lược. Do có truyền thống văn hoá lâu đời và có nhiều dân tộc anh em sinh sống, Bắc Giang - vùng Kinh Bắc xưa còn nổi tiếng là miền quê có nhiều lễ hội. Mỗi năm có hàng trăm lễ hội được tổ chức ở khắp các thôn quê trong tỉnh, vào dịp đầu xuân, theo phong tục tập quán hầu hết các địa phương đều tổ chức lễ hội với các trò chơi dân gian, cùng những lời ca tiếng hát của nhiều dân tộc anh em khác nhau như: hát Chèo, Quan họ, Then, Sli, Sloong hao, Chầu văn... theo khu vực thôn xã. Các lễ hội này có sức hấp dẫn lớn đối với các nhà nghiên cứu, khách du lịch trong và ngoài nước.
Lễ hội Xương Giang được tổ chức hàng năm vào dịp đầu xuân (từ mùng 6 – 7 tháng Giêng Âm lịch). Đây là lễ hội kỷ niệm chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427, là chiến thắng quan trọng của miền biên ải Đông Bắc, quyết định cho nền độc lập dân tộc vào thế kỉ 15, được sử sách coi là trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, là một lễ hội phản ánh lịch sử hào hùng chống xâm lăng của dân tộc. Trải qua 583 năn, dư âm của chiến thắng Xương Giang vẫn còn vang dội. Ngày hội toàn thắng của quân dân Đại Việt vẫn còn hiện ra trong tâm trí bao thế hệ. Bắc Giang mở hội Xương Giang cũng chính là tái hiện lại một phần lễ hội toàn thắng của nghĩa quân Lam Sơn khi xưa.Lễ hội Xương Giang được tổ chức với nhiều địa điểm, chính hội là nơi làm lễ khai hội và dâng hương tưởng niệm các anh hùng nghĩa sỹ Lam Sơn ở thành Xương Giang, thuộc khu ngã ba Quán Thành, xã Xương Giang, thành phố Bắc Giang. Ngoài trung tâm này, không gian văn hoá của lễ hội còn mở rộng tới các xã, phường của thành phố Bắc Giang. Tất cả các điểm đình chùa, đền miếu, hoặc nhà văn hoá của các cơ sở có lực lượng tham gia đều dương cờ, căng biểu ngữ và tập trung để tiến về nơi làm lễ khai hội.Sáng sớm ngày mùng 6, các đoàn người từ các thôn, làng, phường, xã, dương cờ, gióng trống, xe kiệu với áo quần rực rỡ, tề chỉnh từ các ngả đường lần lượt tiến về trung tâm khai hội. Không khí cờ hoa, biểu ngữ, các đoàn quân hành tiến trong tiếng trống, tiêng chiêng, tiếng nhạc vang lừng. Cuộc rước tại lễ hội Xương Giang thật long trọng, uy nghi, đẹp đẽ và khí thế rầm rập, hết đoàn kỳ lân này lại đến đoàn kỳ lân khác, hết xe biểu tượng này đến xe biểu tượng khác, hết kiệu này đến kiệu khác, hết đoàn quan viên này đến đoàn quan viên khác…Đoàn rước rùng rùng chuyển mình như rồng, như rắn, trống chiêng vang lừng. Hình ảnh các đoàn quân lên đường lúc này khác xa hình ảnh các đoàn quân tiến về khu khai hội. Lúc các đoàn từ làng, xã kéo đến là không khí chiến thắng từng trận, từng trận một, còn lúc này là khí thế đại đoàn quân tổng công kích giành đại thắng. Khí thế ấy được ví như:“ Đánh một trận sạch không kình ngạc Đánh hai trận tan tác chim muông” (Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi) hay. “ Kìa trận Hợp Phì thuở trước… Sao bằng đây Xương Giang vẻ vang” ( Xương Giang Phú - Lý Tử Tấn)Năm nào cũng thế, mỗi khi đến giờ khai hội, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Giang và các ban, ngành, đoàn thể của tỉnh, của thành phố cũng đều đến dự khai hội và làm lễ dâng hương, sau đó tất cả các đoàn cùng nhau lần lượt rước lên dâng hương tưởng niệm các anh hùng.Lễ dâng hương được tổ chức ở trung tâm khai hội rất long trọng. Ở đây các lễ chào cờ, lễ đọc diễn văn khai mạc, đọc “Đại cáo bình ngô”, đọc “Xương Giang phú”, lễ múa ra quân được tiến hành. Giữa các lễ này đều có nhạc hiệu làm nền vang lên trầm hùng và thúc giục lòng người.Sau lễ dâng hương các đoàn rước trở về làng mình, làm lễ Am Vị đưa xếp các đồ tế khí, kiệu, ngựa vào vị trí cũ. Riêng làng Thành và Làng Vẽ thì là lúc bắt đầu vào hội lệ của làng mình.Hội Xương Giang là lễ hội có qui mô lớn, khí thế mạnh mẽ, có nhiều địa phương tham gia, hình thức khai hội thay đổi theo từng năm rất phong phú. Trong ngày hội huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn cũng cử đoàn đại diện tham dự. Tại Huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang cũng mở hội Cần Trạm – Phố Cát hưởng ứng. Lễ hội Xương Giang có tính chất liên tỉnh, liên huyện và để lại ấn tượng sâu sắc trong đời sống văn hoá - xã hội của nhân dân các địa phương. Nơi dâng hương tưởng niệm chính là thành Xương Giang năm xưa. Bởi thế qua lễ hội này, truyền thống lịch sử hào hùng của cha ông thuở trước sẽ được khơi dậy và phát huy tốt đẹp trong lớp lớp con cháu mai sau. Thân Quang Huy
Cuộn xuống để xem thêm bài viết