Di sản nói chung và di sản phi vật thể nói riêng là những nguồn tài nguyên du lịch quí giá. Hiện nay loại hình du lịch tìm hiểu những nét văn hóa là bản sắc dân tộc đang được rất nhiều du khách ưa thích, đặc biệt là du khách quốc tế. Điều đó khẳng định vai trò, sức hút và sự hấp dẫn của các di sản đối với sự phát triển của ngành du lịch.
Làng cổ Thổ Hà - Dấu ấn văn hóa nghìn năm Bắc Bộ.(Cinet)- Trải dài dòng sông Cầu thơ mộng, Thổ Hà (xã Vân Hà, huyện Việt Yên) là một trong những ngôi làng hiếm hoi còn giữ được vẻ đẹp văn hóa cổ của vùng Kinh Bắc, nơi mà đâu đó vẫn còn phảng phất phong vị hữu tình của nét xưa cây đa, bến nước, sân đình và những nếp nhà cổ san sát nằm sâu trong ngõ hẻm…Thổ Hà từng được coi một trong ba trung tâm gốm sứ cổ xưa nhất của người Việt. Gốm Thổ Hà mang những nét đặc sắc riêng hiếm có: độ sành cao, không thấm nước, tiếng kêu như chuông, màu men nâu đỏ mịn màng, ấm áp và gần gũi. Gốm có độ bền vĩnh cửu dù được chôn trong đất, ngâm trong nước. Làng chỉ làm đồ gốm gia dụng, những chum vại, tiểu sành, chĩnh chõ nổi tiếng một thời.Ngày nay, dấu tích của nghề gốm vang bóng một thời vẫn còn hiển hiện trong những bức tường ngõ cổ và bức tường nhà xây toàn bằng những mảnh gốm vỡ hay tiểu sành phế phẩm, không dùng chút vôi vữa nào, chỉ dùng bùn của sông Cầu để kết dính. Vẫn là con đường xưa, còn đó những nếp nhà rêu phong, mái đình cong trầm mặc vắt ngang qua chiều dài lịch sử văn hóa Việt; ngôi chùa cổ kính hàng trăm năm tuổi là một trong những di tích cấp quốc gia được công nhận sớm nhất, năm 1960. Đến đây du khách chắc hẳn sẽ phải ngạc nhiên về những sáng tạo của người xưa khi đưa những chất liệu sành vào trong kiến trúc làng.Theo nhịp sống hiện đại, tường gạch vôi được xây lên thay thế cho những bức tường cũ, chuyện xây nhà bằng tiểu sành chỉ còn trong ký ức, như minh chứng cho thời quá vãng vàng son của nghề gốm Thổ Hà.Tuy nhiên, hiện nay làng chuyển sang làm nghề bánh đa và mỳ gạo.Thổ Hà, không chỉ có nghề gốm cổ truyền, mà còn sở hữu một quần thể di sản kiến trúc của làng cổ, trong đó có ba di tích lịch sử văn hóa được nhà nước công nhận là Đình, Chùa và Văn Chỉ, với gần hai chục tấm bia đá ghi bằng chữ nho ở cả hai mặt. Thổ Hà còn nổi tiếng với những kiến trúc cổ từ nhà cửa đến cổng làng, khu giếng cổ đều được làm bằng gạch nung và sành đắp nổi không tráng men.Cổng làng Thổ Hà có kiến trúc đẹp, bề thế và cổ kính, được làm từ đôi bàn tay của những nghệ nhân dân gian của làng, thể hiện sự thịnh vượng của nghề gốm xưa kia. Đây là một trong những cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu.Cổng làng Thổ Hà là một trong những cổng đẹp nhất ở vùng hạ và trung lưu sông Cầu.Cổng nằm ở ngay đầu làng phía trước đình, bên tả là hồ nước rộng, bên hữu có cây đa hàng trăm năm tuổi, đây là những nét rất đặc trưng mang đậm dấu ấn văn hóa của cư dân đồng bằng Bắc Bộ với hình ảnh cổng làng, cây đa, bến nước, sân đình cùng những vòm cổng, những khu miếu thờ, từ chỉ, đình, chùa... Ngoài ra, trong làng vẫn còn lưu giữ được một số ngôi nhà cổ xây dựng cách đây trên 100 năm, tiêu biểu cho các ngôi nhà cổ thuộc đồng bằng Bắc Bộ.Đình Thổ Hà là một ngôi đình nổi tiếng của xứ Kinh Bắc, được xây dựng vào năm 1692, thời vua Lê Hy Tông. Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng. Ðình có quy mô lớn, kết cấu kiến trúc tương đối hoàn chỉnh. Các mảng chạm khắc thể hiện phong cách thời Lê rõ nét, độc đáo. Ðề tài thể hiện trên các cấu kiện kiến trúc chủ yếu là “tứ linh, tứ quý” hoa lá cách điệu, chim thú và con người. Con rồng ở đình Thổ Hà được chạm ở nhiều bộ phận: đầu dư, bẩy, kẻ, cốn, ván nong, câu đầu với các đề tài rồng ổ, rồng mẹ cõng rồng con, rồng và thiếu nữ... Bởi vậy, không ngẫu nhiên mà các nhà khoa học lại xem đình Thổ Hà là một bông hoa về nghệ thuật kiến trúc cổ Việt Nam. Năm 1962, đình Thổ Hà đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia.Trong đình có ba tấm bia lớn là: Thủy tạo đình miếu bi, Cung sao sự tích thánh, Bia sao sắc phong. Có lẽ một trong những điều thu hút sự chú ý của du khách chính là nội dung được ghi ở tấm bia Thủy tạo đình miếu bi. Tại đây, mô tả khá kỹ địa hình núi sông của làng Thổ Hà: phía Đông đẹp đẽ như rồng quay về chốn tổ; phía Tây hùng vĩ như dáng hổ ngồi chầu; phía Nam có núi Hằng Lĩnh và dòng sông Nguyệt Đức, đó là sách trời đã định; phía Bắc có ngọn núi Lát, hun đúc khí thiêng cho dải đất Thổ Hà. Từ địa thế này làng đã sản sinh ra những bậc anh tài, giỏi dang, đỗ đạt, làm quan văn võ, áo đỏ tía rực rỡ chốn triều đình. Cũng từ mảnh đất này, nghề bán buôn, làm ăn sinh sôi, phát triển nhiều người giàu có, nhà nào cũng có nghề gốm phát đạt.Đình Thổ Hà tiêu biểu cho không gian tâm linh, văn hóa của người Việt với nét kiến trúc đặc trưng.Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự”. Niên biểu chính thức của chùa chưa được tìm thấy. Căn cứ dòng chữ ghi trên đôi rồng đá ở cửa chùa thì năm Giáp Thân 1580 đời nhà Mạc mua rồng đá, năm Canh Thân 1610 chùa được tu sửa lại. Như vậy, chùa phải được xây dựng từ trước đó.Chùa xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, có quy mô lớn, bao gồm cổng tam quan, gác chuông và tiền đường. Tam quan chùa nằm sát sau đình. Gác chuông và tiền đường được chạm trổ lộng lẫy với các đề tài rồng mây, hoa lá. Thời gian kháng chiến, quả chuông to trong gác chuông được lấy để đúc vũ khí. Trong chùa có tượng Phật tổ Như Lai to lớn và tượng Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen.Từ tòa Tam Bảo theo hai dãy hành lang vào tới Động Tiên, là một công trình kiến trúc hiếm có. Động tiên đã ghi lại đầy đủ hình ảnh Thích Ca từ lúc mới sinh ra, lúc trưởng thành và khi lìa bỏ kinh thành vào động tu hành đến đắc đạo. Tiếp theo đi qua sân rộng tới nhà Tổ, nơi đây thờ Sư Tổ và các vị sư đã trụ trì chùa. Chùa Thổ Hà được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1996.Chùa Thổ Hà có tên là “Đoan Minh Tự”.Văn chỉ làng Thổ Hà được xây dựng vào thế kỷ 17 (theo tấm bia còn lưu giữ thì được xây dựng vào năm Vĩnh Thịnh thứ 5, năm 1680) thờ Khổng Tử, Tứ Phối, 72 vị tiên hiền… Nơi đây được coi là cái nôi của nền học thức Thổ Hà. Đây cũng là địa điểm thu hút khá đông du khách đến tham quan, nhất là vào mùa thi cử, các sĩ tử đều đến đây thắp hương, lễ bái với tấm lòng thành kính. Văn chỉ làng Thổ Hà được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa ngày 28/2/1999.Vẻ đẹp cổ kính, thuần Việt, sự hồn hậu, mến khách của người dân với nghề làm gốm cổ truyền, làng Thổ Hà là một địa chỉ du lịch hấp dẫn với du khách và các nhà nghiên cứu văn hóa.
Người Sán Dìu ở Bắc Giang có dân số đông, gần 24 vạn người sinh sống và cư trú ở 109 xã, thị trấn thuộc các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Tân Yên và Lạng Giang. Người Sán Dìu còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc. Là cư dân của nền văn minh lúa nước, người Sán Dìu rất coi trọng lúa, gạo, gà, cá,… cũng như các loại rau, củ, hoa, quả rừng và do trồng trọt. Người Sán Dìu thường dạy con cháu: không Soọng cô không tốt lúa/ không Soọng cô thóc cạn bồ/ không Soọng cô hoa sẽ tàn héo/ không Soọng cô trai gái không thành đôi. Nhưng không chỉ có thế, người Sán Dìu vừa giản dị, dân dã, vừa chứa đựng bao điều sâu xa: Đất, trời, lửa, nước, âm dương – ngũ hành và triết lý nhân sinh sâu sắc.
Mùa xuân gắn với những làn điệu dân ca mượt mà đằm thắm, dân ca, dân vũ của đồng bào dân tộc Tày, Nùng tỉnh Bắc Giang cũng mang trong mình những nét văn hoá độc đáo, mang bản sắc riêng. So với các dân tộc ít người ở Bắc Giang, người Tày và người Nùng có dân số đông hơn, người Nùng khoảng 67.000 người, người Tày xấp xỉ 38.000 người. Vào những năm đầu của thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, người Tày, Nùng di cư từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Bắc Giang, tập trung ở 5 huyện: Yên Thế, Lạng Giang, Lục Nam, Lục Ngạn và Sơn Động. Họ sống và định cư độc lập ở các làng bản riêng và có truyền thống văn hóa, phong tục tập quán riêng. Bản sắc văn hoá âý trải qua nhiều bước thăng trầm vẫn tồn tại trong đời sống văn hoá tinh thần của người Tày, người Nùng đến ngày nay. Đặc biệt những làn điệu dân ca được bảo tồn và phát huy rất tốt như Soong hao, Sli, Lượn, Then...
Khách du lịch trong nước cũng như quốc tế, ngoài nhu cầu đi thăm quan, nghỉ dưỡng, mua sắm, nhiều du khách muốn khám phá, nghiên cứu, tìm hiểu về đời sống, văn hóa của người dân địa phương. Trong những năm gần đây Du lịch làng nghề đang là một loại hình du lịch được nhiều quốc gia trên thế giới khai thác rất có hiệu quả, đây là một loại hình du lịch vốn đầu tư ban đầu không lớn nhưng hiệu quả mang lại rất cao. Làng nghề thường là nơi thu hút nhiều nhất sự quan tâm của du khách bởi nó phản ánh đầy đủ các mặt trong đời sống sinh hoạt văn hoá của người dân địa phương. Bắc Giang là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống, hầu hết những làng nghề truyền thống ở Bắc Giang đều mang những nét đặc sắc khác biệt, tạo nên một quần thể văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng.
Đình Đông Lỗ còn có tên gọi là đình Lỗ Hạnh. Đình thuộc làng Lỗ Hạnh, xã Đông Lỗ, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Là ngôi đình cổ có niên hiệu sớm nhất vùng Kinh Bắc xưa- Bắc Giang ngày nay.
Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với truyền thống lịch sử văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương. Dọc ven dòng sông này có rất nhiều các điểm di tích thờ Mẫu nhưng được quan tâm và chú ý nhiều hơn là đền Nguyệt Hồ thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế.
Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế thuộc huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang, cách Thành Phố Bắc Giang 28 km về phía Tây Bắc theo đường tỉnh lộ 284. Là nơi đã diễn ra cuộc khởi nghĩa nông dân chống Thực dân Pháp xâm lược kéo dài suốt 30 năm vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1884 – 1913) do vị anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Các điểm di tích của cuộc khởi nghĩa bao gồm: Đồn Hố Chuối, Đồn Hom, Đồn Phồn Xương, Đền Thề, Nhà tưởng niệm... Ngày 16/3/1984 nhân kỷ niệm 100 năm cuộc khởi nghĩa, UBND tỉnh Hà Bắc (cũ) đã tổ chức lễ hội tại khu di tích này nhằm tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc cùng các nghĩa sĩ và khơi dậy truyền thống thượng võ của nhân dân trong vùng. Từ đó đến nay, ngày 16/3 hàng năm được lấy làm ngày hội truyền thống ở địa phương, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tâm linh của nhân dân Yên Thế – Tân Yên nói riêng và Bắc Giang nói chung. Hiện nay khu di tích đã được Bộ VHTT quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.
Nằm ở phía bắc chân núi Phượng Hoàng thuộc xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, Bổ Đà là dãy núi lớn với cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có rất nhiều di tích, truyền tích về tín ngưỡng đạo Phật, trong đó nổi bật truyền thuyết về chùa Bổ Đà.
Ngày 16/5/2012, tại Trung tâm hội nghị, hội thảo của khách sạn Amari WatergateBăng Cốc (Thái Lan), Ủy ban UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đãxướng danh và chính thức ghi danh Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyệnYên Dũng, tỉnh Bắc Giang vào danh mục Di sản tư liệu trong Chương trình ký ứcthế giới.
Lễ hội Thổ Hà (xã Vân Hà, huyện Việt Yên, Bắc Giang) được tổ chức vào ngày 19đến 21 tháng Giêng hằng năm. Đối tượng suy tôn là Thành Hoàng làng. Năm nàocũng tổ chức lễ hội nhưng ba năm một lần mới mở hội lớn có lễ rước. Đây là một lễhội còn duy trì được nhiều nét bản sắc độc đáo của lễ hội xứ Bắc.